Sông Gianh chảy qua con đường tráng lệ giữa các lèn núi đá vôi với chiều dài ngắn nhưng nhiều ghềnh thác. Dòng sông này đã từng một thời là ranh giới giữa xứ Đàng Ngoài và xứ Đàng Trong. Đầu ngọn nước sông Gianh là xứ sở của “Xá lá vàng”. Những tộc người sợ ma, sống trong hang đá, lá vàng… tồn tại từ nhiều đời nay bằng phương thuật và cây cỏ.
Kỳ 1: Thảo nguyên dưới đáy sông
Bắt nguồn từ phía dãy núi Cô Pi cao 2.017m, sông Gianh có bốn chi lưu gồm Rào Nậy, Rào Nan, Rào Trổ và Rào Son chảy qua quãng đường dài 160km đổ ra cửa Gianh. Bạn chỉ có thể đi thuyền một nửa chiều dài đến đoạn trung lưu bởi phía thượng lưu hơn 200 thác ghềnh hiểm trở kéo dài tới đầu nguồn nước. Đó là nơi cư trú của những bộ tộc ít người nhất Việt Nam như người Sách, người Mày, Khùa, Mã Liềng, Rục…
|
|
| Làng bè Thanh Châu sống nhờ tông dưới đáy sông |
Con đường tráng lệ
Từ cầu Quảng Hải ở huyện Quảng Trạch ngược dòng lên đến Đồng Lào, Đồng Lê huyện Tuyên Hoá, sông Gianh trải qua một quãng đường dài giữa những lèn núi đá vôi hùng vĩ soi mình bóng nước. Thiên nhiên trác tuyệt của vùng đất này được hình thành do hiện tượng karst của núi đá vôi chủ yếu thời kỳ Đại tân sinh (cách đây 65 triệu năm). Huyền thoại sinh ra từ những lèn núi dọc sông. Tương truyền xưa kia 100 con chim phượng bay đi tìm đất lập kinh đô nước Việt. Đàn chim bay tới sông Gianh, nhìn thấy 99 ngọn núi đá vôi ở làng Lệ Sơn bèn đáp xuống. Vì thiếu mất một chỗ đậu cuối cùng cho chim phượng đầu đàn nên đàn chim bay đi.
Làng Lệ Sơn thuộc xã Văn Hoá huyện Tuyên Hoá ngày nay đã không trở thành kinh đô nước Việt nhưng trở thành làng học nổi tiếng của đất Quảng Bình. Mỗi lèn núi đá vôi là một huyền thoại kéo dài suốt từ Lệ Sơn lên đến tận Đồng Lê như lèn Bảng có hình quan võ quan văn, hang Minh Cầm gắn với người tiền sử… Sông Gianh ở đoạn trung lưu này, có những đặc điểm không con sông nào của Việt Nam có được.
Theo tài liệu thuỷ văn, diện tích lưu vực sông Gianh rộng 4.680km2. Nguồn nước xuất phát từ núi đá vôi mang lại màu sắc xanh ngọc lạ lùng cho sông Gianh. Các bạn sẽ ngạc nhiên khi biết dưới làn nước xanh bí ẩn này là cả một “thảo nguyên” lộng lẫy kéo dài suốt từ trung lưu lên đến thượng lưu. Mùa hè, đi thuyền trên sông, bạn sẽ có dịp thưởng ngoạn cảnh sắc lạ kỳ dưới đáy dòng sông. Anh Phạm Ngọc Liên, quê ở xã Tiến Hoá, một người lái thuyền dọc sông Gianh phàn nàn việc đi lại khó khăn trên con sông này vào mùa cỏ mọc. Cỏ mọc kín lòng sông mấy chục cây số từ bờ bên này sang bờ bên kia làm vướng chân vịt.
Tiếng địa phương ở đây gọi cỏ dưới lòng sông là tông, phân biệt với cỏ mọc trên bờ. Sông Gianh có hai loại tông chính là tông mây và tông lá. Tông mây một thân, dài như tóc xoã từ đáy lên ngang mặt nước. Khi cơn lũ đầu mùa đổ về, tất cả các loại tông đều biến mất. Sau thời điểm tết Nguyên đán hàng năm, tông trở lại chu kỳ sinh sôi nảy nở cho tới cuối mùa hè. Thảo nguyên dưới đáy sông Gianh là chốn thuỷ cung tuyệt vời của các loài cá vượt, cá xanh, cá xao, cá mát…
Làng tông Thanh Châu
Làng Thanh Châu thuộc xã Châu Hoá huyện Tuyên Hoá là trung tâm của thảo nguyên dưới đáy sông Gianh. Tông mây, tông lá ngoài việc đem lại môi trường ấm cho cá nước ngọt còn là món “ẩm thực” ưa thích cho những loài cá này. Thanh Châu trước đây không nhà không đất. Người dân nhiều đời sống trên thuyền mà tiếng địa phương gọi là nôốc. Thỉnh thoảng, người ta che lều tạm làm nơi nấu ăn hay nuôi gà, nuôi heo trên những hốc núi nhỏ ven bờ.
Trước chiến tranh, vạn chài Thanh Châu chỉ được trở về đất khi họ đã chết. Thanh Châu nay chỉ còn lại gần 40 hộ dân “trụ bám” trên nôốc, dựa vào “thảo nguyên” với nghề nuôi cá lồng kiếm sống. Trong chiếc lồng chật hẹp, dưới nuôi cá, trên làm nơi sinh hoạt của cả gia đình, bà Nguyễn Thị Lý (49 tuổi) than vãn: “Cả mấy đời chúng tôi chỉ trông có lỗ đất mà ở!”. Nghèo đói, đẻ nhiều, thất học và rủi ro là bức tranh ảm đạm của ngôi làng heo hút giữa trùng trùng non xanh nước biếc này.
Theo thống kê của dân làng, trong vòng mười lăm năm trở lại đây, có ít nhất gần 40 trẻ em trong làng chết đuối. Khi chúng tôi vào “nhà” của anh Hoàng Văn Long, cái chết tang thương của em Hoàng Văn Trọng (sáu tuổi) vẫn còn dư âm buồn bã nhưng vợ anh đã “kịp” sinh thêm một đứa con nhỏ nữa. “Tháng giêng vừa rồi tôi lên bờ đi chẻ đá kiếm ăn, ở nhà cháu rớt xuống nước chết. Khi nó chết, thằng em của nó bỏ ăn và khóc đi tìm anh mấy ngày liền!”, anh Long kể.
Nghề nuôi cá lồng ở làng Thanh Châu thực tế chỉ đem lại nguồn lợi vô cùng ít ỏi cho người dân. Một cái lồng tre, vừa nuôi cá vừa làm chỗ ở cho gia đình giá thành hiện nay thấp nhất là 5 triệu đồng. Một lồng cá ba năm mới thu hoạch. Tính trung bình thu nhập cho một gia đình khoảng bốn, năm nhân khẩu một năm là 10 triệu đồng với điều kiện không dịch bệnh hay lũ lụt. Có người còn tính chi li hơn, bình quân nuôi một lồng cá một ngày chỉ lãi 5 ngàn đồng.
Cả làng không ai học quá lớp 9. Những người trên tuổi 30 thường mù chữ. Trẻ em Thanh Châu học tới lớp 5 là “cao học” rồi! Hỏi, vì sao không đi học? Em Mai Văn Lập trả lời không có tiền học tiếp, với lại không biết học để làm gì. Năm nay 16 tuổi, Lập là con thứ 9 của ông Mai Hiệp. Học đến lớp 6 em nghỉ ngang, phụ bố nuôi cá lồng, ngày ngày ngụp lặn dưới đáy sông bứt tông mây, tông lá về cho cá ăn, đêm đêm chèo nôốc đi đơm cá đơm tôm. Giữa trời giá rét lạnh căm, Lập vẫn thản nhiên chèo nôốc lên đầu ghềnh, lặn xuống sông vớt cỏ. Lập nói, em rành đáy sông ở khúc ni lắm. Chỗ mô có tông mây nhiều, chỗ mô có hang đá hay luồn lạch em cũng “nhìn” thấy y trên bờ. Quả nhiên, đang giữa mùa tông mây tàn rụi nhưng chỉ sau mười phút ngụp lặn, Lập đã chất một góc khoang tông mây rồi nhanh nhẹn trèo lên nôốc trở về lồng cá.
Con thuyền đưa chúng tôi ngược dòng sông Gianh nước xanh màu ngọc. Nhìn xuống đáy sông, lơ thơ những đám tông mây cuối mùa uốn lượn theo dòng chảy. Những đứa trẻ con làng Thanh Châu trèo ra lồng cá đứng vẫy tay theo í ới. Chúng tôi tự hỏi, không biết bao giờ những đứa trẻ này sẽ rời xa cái thảo nguyên xanh dưới đáy dòng sông tuyệt đẹp nhưng buồn bã này…
bài và ảnh Nguyễn Minh Sơn (SGTT)
Kỳ 2: Tộc người sợ ma ở bản Hà Vi
