Kỳ 3: Những người lá vàng
Những đứa trẻ tóc cháy nắng, da đen nhẻm, chân đất, trần truồng, thấy người lạ hoảng sợ bỏ chạy biến. Đôi mắt hai phần ba tròng trắng thập thò bên cửa sổ nhà sàn. Con đường vào bản Cà Ai hun hút trong hẻm núi dưới chân mây. Đứng từ bản nhìn lên, dãy Giăng Màn như bức tường thành vĩ đại trước mặt làm biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Lào.
![]() |
| Bản Cà Ai của người lá vàng |
Cà Ai là bản cuối cùng ở thượng nguồn sông Gianh, xứ sở của người Mày hay còn gọi là dân tộc lá vàng với dân số ít ỏi 290 người. Trước đây, người Mày sống lang thang trong những cánh rừng dưới chân dãy Giăng Màn. Ði tới đâu, họ phát rẫy tới đó. Rẫy chỉ làm một vụ rồi bỏ đi.
Lẽ sống giản đơn
Người Mày trong quá khứ không nhà không cửa, chỉ có túp lều trên nương. Những chiếc lều nhỏ ban đêm làm nơi trú ẩn chỉ vừa hai ba người chui vào, lợp bằng lá chuối rừng hoặc lá tro. Khi lá xanh trên mái lều ngã sang màu vàng, người Mày lập tức bỏ đi nơi khác. Trong vòng đời của một người Mày không thể tính hết những chiếc lều lá vàng như vậy. Người ta “kỵ” lá vàng vì liên quan đến sự chết. Lá xanh ở, lá vàng đi kéo dài trong suốt cuộc đời của họ và cho tới tận bây giờ. Cuộc sống du cư như vậy đã hình thành một triết lý giản đơn trong đời sống của họ. “Lá tro, mo chẹo, chân chụm bếp, miệng nhai trầu chệch choạc. Thế thôi cũng qua một đời”. Gặp bất cứ người Mày lớn tuổi nào bạn cũng có thể nghe họ nói về câu thành ngữ này. Lá tro là thuộc họ cọ dùng để lợp lều, vỏ cây chẹo đóng khố mặc… Hạnh phúc nhất của người Mày là ăn trầu, uống nước chè, hút thuốc lá và uống rượu đoát. Ðã là người Mày phải nghiện nước chè, thuốc lá. Trẻ con sinh ra, lớn lên chừng bốn, năm tuổi đã biết hút thuốc lá, bất kể là con trai hay con gái.
Ðại uý Ðặng Văn Lê thuộc đồn biên phòng Cha Lo dẫn đường cho chúng tôi vào bản Cà Ai. “Mười mấy năm trước, người Mày sống du canh du cư trong những thung lũng đầu nguồn suối Cà Ai. Họ đóng khố vỏ cây, làm lều lá vàng, rẫy ở đâu người ở đó. Mình phải vận động dữ lắm, cấp gạo cho họ ăn, làm đường đi, nhà ở họ mới chịu xuống đây định cư”, anh Lê nói. Thế nhưng, thói quen canh tác của người Mày vẫn không thay đổi. Họ thích vào rừng hàng tháng trời, sống quen trong những chiếc lều lá xanh cho tới lá vàng, đào củ môn, bẻ măng, bắt cá để ăn, làm rượu đoát để uống. Buổi trưa trong bản Cà Ai vắng tanh. Người lớn đi rừng hết. Những người đàn bà địu con lên rẫy muộn thập thững trên đường, sau búi tóc kẹp một bịch thuốc lá to tướng. Thấy chúng tôi giương máy ảnh, họ thét lên kinh hãi bỏ chạy. Cộng đồng người Mày sống thu mình khép kín nên thường hốt hoảng khi gặp người lạ. Phần lớn họ không nói được tiếng Kinh. Ðồn biên phòng Cha Lo cử hẳn một tổ công tác cắm ở bản Cà Ai để giúp đỡ dân làng về mọi mặt.
Hồn nhiên như cây cỏ
![]() |
| Đàn ông, và cả đàn bà người Khùa nghiện thuốc lá từ lúc lên 4, lên 5 |
Trong quá trình du cư, tổ tiên người Mày đã để lại cho đời sau kinh nghiệm về những cây lương thực tự nhiên giữa những cánh rừng bát ngát. Cây đoát ngoài việc đem lại chất men nồng cho người Mày còn sản sinh ra một loại thực phẩm đặc biệt đó là con nhộng nhúc. Ðàn ông Mày buổi tối thường không cần ăn cơm hay ăn củ. Họ chỉ cần uống rượu đoát nhắm với nhúc để xua đi mệt nhọc và cái đói. Dưới chân dãy Giăng Màn, dọc theo những con suối đầu nguồn vách núi đá vôi là xứ sở của rừng đoát. Người ta đục vào thân cây một cái máng nhỏ, dùng ống tre bắt vào cho nước từ thân chảy ra, lên men bằng vỏ cây chuồn qua một ngày hay một đêm có thể mang ra uống như một thứ rượu tự nhiên. Sau một tháng cho rượu từ thân cây, trong máng sẽ tự sinh một loài sâu lớn hơn con tằm gọi là nhúc.
Thiên nhiên còn ban tặng cho bộ tộc nhỏ bé giữa đại ngàn này một loại cây thân gỗ vĩ đại khác dùng để làm lương thực. Mùa hè, người Mày đi vô rừng tìm cây nghèn để lấy bột đông như hội. Tất nhiên không phải cây nghèn nào cũng cho được lương thực. Người ta phải dùng rìu, chặt thử vào từng thân cây nghèn. Cây nghèn đúng độ tuổi, chặt sâu vào khoảng mười phân, từ thân cây đổ ra một loại bột màu ngà. Bột nghèn được gói vào trong một cái túi làm bằng vỏ lụa của cây rừng. Bột nghèn được chế biến bằng cách nấu một nồi nước nóng trên có gác thanh củi. Họ dùng cái túi bột đập liên tục lên thanh củi. Bột mịn từ túi bay ra gặp nước nóng đông lại thành bột, ăn rất ngon.
Già làng Cao Xuân Xiêm của bản Cà Ai cho biết, phụ nữ người Mày khi mang thai được chồng dựng riêng một túp lều ngoài rừng để làm nơi sinh nở. Họ rất kiêng kỵ việc trẻ con được sinh ra trong nhà và trên sàn. Ðứa trẻ phải lọt lòng ở dưới mặt đất. Trước đây, thai sản phải ở trong lều ngoài rừng một tháng, nay phong tục đã “giảm” còn nửa tháng. Trẻ con sinh ra đúng ba ngày, bất kể mùa đông giá rét hay mùa hè nắng nôi đều được đưa xuống suối tắm mỗi ngày một lần cho tới khi nó lớn lên. Những đứa trẻ ở đầu nguồn nước sông Gianh này ba, bốn tuổi đã biết bơi, bắn cung và bẫy chuột. Khi người Mày ốm đau, họ mời thầy cúng về đuổi con ma và cầu xin thần linh phù hộ cho người ốm. Trường hợp bệnh quá nặng, sau lễ cúng toàn bộ con cháu phải nằm ngoài trời phơi sương ba đêm với quan niệm thần linh sẽ “thấy” và cảm động giúp cho người bệnh.
Khi chúng tôi vào nhà anh Cao Xuân Ðức, vợ anh vừa sinh được 20 ngày, anh đang ốm nhưng tự sắc một loại rễ cây để uống và anh nói “thuốc của trạm xá sao bằng rễ cây này”. Trong ý thức của người Mày, họ vẫn luôn tách mình ra khỏi thế giới văn minh để sống tự nhiên giữa thiên nhiên hoang dã bằng những kinh nghiệm truyền đời của mình.
bài và ảnh Nguyễn Minh Sơn (SGTT)
Kỳ cuối: Cây cỏ máu bí truyền của người Rục

