Cột sống
bị thoái hóa là một trong những hệ lụy thường gặp của tuổi già. Tuy nhiên, trong
những năm vừa qua, bệnh lý này đang có xu hướng trẻ hóa bởi nhiều nguyên nhân khác
nhau. Thoái hóa cột sống không những gây ra những cơn đau khó chịu mà còn có khả
năng gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm khác. Tất cả là do rễ thần kinh cột sống
bị chèn ép. Trong bài viết dưới đây, chúng ta cùng tìm hiểu về bệnh rễ thần kinh,
hệ quả của sự thoái hóa các đốt sống.
Bệnh ở rễ thần kinh (còn gọi là bệnh rễ
thần kinh) gây ra do rễ thần kinh trong hoặc gần với cột sống bị chèn ép cấp
tính hoặc mãn tính. Triệu
chứng dễ nhận biết nhất của bệnh rễ thần kinh là cơn đau đột ngột và dữ dội ở
vùng thắt lưng lan xuống mông và dọc theo cánh tay hoặc chân. Trong trường hợp
này nhiều khi chúng ta hay nói là đau thần kinh toạ. Các triệu chứng khác của
bệnh bao gồm: yếu cơ, tê, ngứa ran ở lưng, tê ở chân hoặc đau nhức về đêm.
Rễ là gì?
Rễ thần kinh, tức là
các sợi thần kinh kéo dài từ tủy sống như các sợi rễ và tạo thành một đám dây
thần kinh cột sống khi được nối với nhau. Cột sống của chúng ta là một cấu trúc
gồm 33 đốt xương gọi là đốt sống được giữ cố định bởi một mạng lưới cơ, gân và
dây chằng. Các đốt sống bảo vệ tủy sống với cấu trúc dài và mỏng manh trong ống
sống chạy qua trung tâm của cột sống. Giữa các đốt sống là các đĩa đệm làm bằng
sụn giúp đệm cột sống và giúp nó linh hoạt.
Rễ là tên gọi chung của
các rễ thần kinh, tức là các dây thần kinh được ghép nối kéo dài từ tủy sống
qua các lỗ giữa đốt sống của cột sống. Một người có tổng cộng 31 cặp dây thần
kinh - 8 cặp dây thần kinh cổ, 12 cặp dây thần kinh ngực, 5 cặp dây thần kinh
thắt lưng và xương cùng, và 1 cặp dây thần kinh xương cụt. Có hai loại rễ thần
kinh khác nhau: sọ và cột sống.
Rễ thần kinh sọ kéo
dài từ các dây thần kinh gần não nhất. Rễ thần kinh cột sống kéo dài từ các dây
thần kinh bắt đầu từ tủy sống. Những rễ thần kinh này mang tín hiệu từ não đến
phần còn lại của cơ thể. Tổn thương hoặc chèn ép lên bất kỳ rễ thần kinh nào có
thể gây đau hoặc mất chức năng ở các bộ phận khác nhau của cơ thể.
Triệu chứng bệnh rễ thần kinh - paresis
Paresis là tình trạng
cử động cơ bắp bị suy yếu hoặc bị rối loạn. Đôi khi paresis được gọi là
"liệt nhẹ" hoặc "liệt một phần". Mặc dù liệt ảnh hưởng đến
cơ, nhưng nó thường xảy ra do tổn thương dây thần kinh.
Các dây thần kinh kiểm
soát mọi chuyển động của các cơ trong cơ thể chúng ta. Nếu một phần của mạng dây
này bị hư hỏng, các cơ ở vùng bị ảnh hưởng có thể không hoạt động bình thường.
Có một số yếu tố có thể gây ra liệt với nhiều kiểu liệt khác nhau. Liệt cục bộ ảnh
hưởng đến một phần nhỏ của cơ thể. Nó thường ảnh hưởng nhất đến mặt, tay, chân
hoặc dây thanh âm.
Có nhiều loại paresis
khác nhau. Chẳng hạn như Paresis co cứng - một tình trạng gây ra hoạt động quá
mức và co cứng của cơ bắp. Nó được gây ra do tổn thương thần kinh thường là kết
quả của các tình trạng như đột quỵ, bệnh đa xơ cứng và bại não. Nó có thể dẫn đến
đau cũng như khó khăn với các hoạt động như đi bộ hoặc mặc quần áo.
Liệt mô tả tình trạng
yếu hoàn toàn hoặc một phần cơ thể. Nó có thể xảy ra đột ngột hoặc dần dần do
tình trạng ảnh hưởng đến não, tủy sống hoặc rễ thần kinh. Trong trường hợp bị
tê liệt, điều quan trọng là phải tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức vì tình
trạng này có thể do đột quỵ hoặc chấn thương cột sống gây ra.
Đau rễ hoặc viêm rễ
thần kinh là một loại đau lan từ lưng và hông đến chân qua cột sống. Cơn đau đi
dọc theo rễ thần kinh cột sống. Đau rễ thần kinh là do viêm rễ thần kinh hoặc rễ
thần kinh bị chèn ép (ví dụ: viêm rễ thần kinh ở vùng cổ có thể gây đau lan ra
bàn tay và cánh tay).
Nguyên nhân gây tổn
thương rễ thần kinh gồm có: Thoát vị đĩa đệm do chấn thương, thoát vị đĩa đệm bệnh
lý, thoái hóa đĩa đệm, thoái hóa cột sống, U cột sống, viêm đa dây đa rễ thần
kinh hoặc U rễ.

(Thoát
vị đĩa đệm có thể là nguyên nhân gây tổn thương rễ thần kinh)
Trong trường hợp viêm
rễ thần kinh, có một số loại đau như sau:
Đau rễ thần kinh thắt
lưng - loại đau phổ biến nhất. Nó xảy ra ở vùng thắt lưng, bao gồm các đốt sống
được đánh số từ 1 đến 5, nằm giữa ngực và xương cùng. Tình trạng này thường có
biểu hiện đau, tê và yếu ở mông và chân. Điều này thường được gây ra bởi sự
chèn ép của rễ thần kinh cột sống.
Đau rễ thần kinh ngực
- loại đau ít phổ biến nhất. Nó được gây ra bởi sự chèn ép của rễ thần kinh ở bất
cứ đâu dọc theo cột sống ngực. Cơn đau được cảm nhận ở phần trên của cột sống
và có thể lan ra phía trước cơ thể. Đau xuyên tâm ngực có thể gây đau, yếu, ngứa
ran và tê. Điều này có thể do hẹp, gai xương, thoát vị đĩa đệm và các tình trạng
khác gây ra.
Đau rễ thần kinh cổ tử
cung – Những điều này xảy ra do rễ thần kinh bị chèn ép ở vùng cổ tử cung bị
chèn ép hoặc bị kích thích nơi nó phân nhánh từ cột sống. Cơn đau lan xuống vai
và vùng cánh tay. Điều này thường do hao mòn, cũng như những thay đổi xảy ra ở
cột sống theo tuổi tác. Người lớn tuổi có thể bị đau rễ cổ tử cung như một triệu
chứng của bệnh viêm khớp. Ở những người trẻ tuổi, nó có thể xảy ra do trượt đĩa
đệm.
Đau thần kinh tọa là
cơn đau do chấn thương hoặc kích thích dây thần kinh hông, đây là dây thần kinh
dài nhất và dày nhất trong cơ thể. Nó bao gồm năm rễ thần kinh: hai từ lưng dưới
được gọi là cột sống thắt lưng và ba từ phần cuối của cột sống được gọi là
xương cùng. Năm rễ thần kinh kết hợp để tạo thành dây thần kinh hông phải và
trái. Ở mỗi bên của cơ thể, một dây thần kinh tọa chạy qua hông, mông và chân,
kết thúc ngay dưới đầu gối. Sau đó, dây thần kinh hông phân nhánh thành các dây
thần kinh khác chạy xuống chân, bàn chân và ngón chân.
Tổn thương thực sự đối
với dây thần kinh hông thực sự hiếm gặp, nhưng thuật ngữ đau thần kinh tọa thường
được sử dụng để mô tả cơn đau bắt nguồn từ lưng dưới và lan xuống chân. Điểm
chung của cơn đau này là tổn thương dây thần kinh, đó là khi bị kích thích, viêm
hoặc bị chèn ép dây thần kinh ở lưng dưới. Ngoài cơn đau (nhẹ hoặc nặng ở bất kỳ
đâu dọc theo dây thần kinh tọa), người bệnh có thể bị yếu cơ ở chân và bàn
chân, tê chân và ngứa ran khó chịu ở cẳng chân, bàn chân và ngón chân.
Hầu hết các trường hợp
có thể giải quyết sau điều trị trong vòng một vài tuần. Tuy nhiên, những người
bị đau thần kinh tọa nghiêm trọng và yếu chân nghiêm trọng hoặc gây tổn thương ruột,
bàng quang có thể phải phẫu thuật.

Chẩn đoán bệnh rẽ thần kinh
Để chẩn đoán bệnh rễ
thần kinh người ta tiến hành các xét nghiệm hình ảnh như chụp cộng hưởng từ
(MRI) hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT). Chụp cộng hưởng từ cho phép thấy rõ tủy sống
cũng như các bất thường của các mô mềm xung quanh tủy sống, chẳng hạn như viêm,
khối máu tụ, khối u, đĩa đệm cũng như xương bị vỡ, gãy xương, viêm khớp và
thoái hóa đốt sống cổ.
Trong trường hợp
không thể chụp cộng hưởng từ và kết quả chụp cắt lớp vi tính không rõ ràng, thì
có thể chụp tủy bằng cách khác, có tên là mielografia (tiếng Anh là Myelography). Người ta tiêm một
chất tương phản cản quang (có thể nhìn thấy nhờ tia X) vào không gian xung
quanh tủy sống và chụp X-quang.
Trong chẩn đoán bệnh rễ
thần kinh còn có thể thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán điện cơ đồ (EMG) để xác
định rễ thần kinh nào bị tổn thương và để xác nhận rằng các triệu chứng là do
chèn ép dây thần kinh cột sống chứ không phải các vấn đề ở tủy sống hoặc đám rối
thần kinh.
Tuy nhiên, nếu nghiên
cứu hình ảnh không xác định được nguyên nhân, bác sĩ sẽ tiến hành chọc dò tủy sống
và phân tích chất lỏng xung quanh não và tủy sống (dịch não tủy) để tìm nhiễm
trùng. Các bác sĩ cũng đo lượng đường trong máu để kiểm tra bệnh tiểu đường và
có thể thực hiện các xét nghiệm khác tùy thuộc vào nguyên nhân nghi ngờ.
Phương pháp điều trị
Điều trị bệnh rễ thần
kinh chủ yếu dựa trên việc điều trị nguyên nhân của vấn đề. Đối với cơn đau cấp
tính có thể dùng thuốc giảm đau như paracetamol và thuốc chống viêm không
steroid (NSAID). Nếu các triệu chứng vẫn còn, corticosteroid có thể được dùng bằng
cách uống hoặc tiêm vào khoảng trống giữa cột sống và lớp mô bên ngoài bao phủ
tủy sống (được gọi là tiêm ngoài màng cứng). Nếu cơn đau kéo dài, việc điều trị
có thể khó khăn hơn. Trong những trường hợp này, acetaminophen và NSAID thường
chỉ có hiệu quả một phần. Cũng cần chú ý là khi dùng NSAID trong thời gian dài có
thể gặp những rủi ro đáng kể như giảm chức năng gan và thận, tăng nguy cơ loét
thủng hoặc chảy máu dạ dày. Ngoài ra, thuốc giảm đau opioid có nguy cơ gây nghiện.
Một số thuốc chống trầm cảm và thuốc chống co giật cũng có tác dụng giảm đau.
Tuy nhiên, tất cả các
loại thuôc kể cả corticosteroid chỉ có tác dụng giảm đau tạm thời. Không có loại
thuốc nào có thể giúp phục hồi cấu trúc cột sống nếu đã bị thoái hóa. Nếu ngưng
sử dụng thuốc thì cơn đau lại trở lại và nhiều khi nghiêm trọng hơn trước đây.
Nếu không có loại thuốc
nào có thể mang lại kết quả như mong đợi, bệnh nhân sẽ phải tìm đến các kỹ thuật
y học thay thế như Vật lí trị liệu, Trị liệu thần kinh cột sống (Chiropractic),
Châm cứu hoặc dược liệu. Tùy thuộc vào mức độ tổn thương hoăc viêm nhiễm, các
phương pháp nói trên có thể có những tác dụng hữu hiệu khác nhau. Nhiều trường
hợp cũng chỉ giúp bớt đi cơn đau tạm thời.
Nếu cơn đau kéo dài
và không biến mất, hoặc nếu áp lực lên các dây thần kinh cột sống gây yếu cơ hoặc
mất cảm giác, có thể phải phẫu thuật để giảm áp lực. Nhưng theo khuyến cáo của
các chuyên gia, phẫu thuật liên quan đến cột sống tương đối nguy hiểm và tiềm ẩn
nhiều rủi ro cho người bệnh. Trong trường hợp này cần phải tham khảo kỹ ý kiến các
bác sỹ chuyên môn.
Về mặt lí thuyết, hiện
nay không có cách nào có thể chữa khỏi thoái hóa cột sống hoàn toàn. Do đó các phương
pháp hiện tại chủ yếu tập trung vào việc giúp bệnh nhân kiểm soát bệnh cũng như
giảm các triệu chứng đau khó chịu, qua đó cải thiện chất lượng cuộc sống hàng ngày
Xuân Nguyên
(Nguồn: https://www.medonet.pl/choroby-od-a-do-z/choroby-ukladu-ruchu,objawy-korzonkow---ten-bol-nie-daje-zyc--jak-i-gdzie-bola-korzonki--co-pomaga-na-korzonki-,artykul,92595799.html)