
Điện hạt nhân (ĐHN) cung cấp liên tục và ổn định điện với chi phí thấp trong khi giữ sạch không khí , nguồn nước và đất. Nó cũng tạo công ăn việc làm bền vững cho đội ngũ vận hành nhà máy điện hạt nhân , trong ngành công nghiệp phụ trợ , thương mại và dịch vụ (đặc biệt là ở cấp địa phương ) . Hơn nữa, năng lượng từ các nhà máy điện hạt nhân có giá rẻ, mỗi MWh điện hạt nhân thu được sẽ gia tăng số lượng việc làm trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế , do đó tích cực ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước.
Những người chống điện hạt nhân (ĐHN) nghi ngờ giá điện hạt nhân rẻ. Thống kê cho thấy , các nhà máy điện hạt nhân có sức cạnh tranh , và giá điện ở các nước có điện hạt nhân thường là thấp hơn so với ở các nước đang bị ngăn cấm nguồn năng lượng này (mặc dù giá điện cho người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau , nhưng chi phí nhà máy sản xuất là quan trọng nhất) . Đó là một lập luận rất mạnh mẽ ủng hộ năng lượng hạt nhân . Người chống ĐHN cho rằng bạn không thể so sánh mức giá hiện tại của năng lượng từ các nguồn tái tạo với giá thanh toán cho các nhà máy điện hạt nhân được xây dựng trong quá khứ, mà đã hoàn trả vốn đầu tư .
Tuy nhiên , xem lại lịch sử các nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động hiện nay , những người chống ĐHN đã từng viết rằng chúng không có lợi nhuận , rằng việc xây dựng ĐHN dẫn đến phá sản ... Tôi muốn nói về các nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động có hiệu quả ở Mỹ hoặc ở Pháp. Hôm nay chúng ta đã thấy rằng nhà máy ĐHN là " gà đẻ trứng vàng " . Các bằng chứng về hiệu quả chi phí của ĐHN là một thực tế là ở nhiều nước ( như Đức, Bỉ , Tây Ban Nha , Hà Lan, Thụy Điển , Phần Lan) đến mức người ta buộc họ nộp thêm thuế bổ sung (ví dụ như trong trường hợp của Bỉ lên đến 50 % lợi nhuận ròng của các nhà điều hành) .
Tương tự như vậy với các nhà máy ĐHN sẽ xây mới hiện nay. Năng lượng hạt nhân là một đầu tư tốt, mang lại lợi ích lâu dài cho xã hội. Do đó cần biết chính xác bạn có thể nhận được bao nhiêu việc làm khi phát triển năng lượng hạt nhân ?
Ước tính chính xác nhu cầu về lao động trong khi xây dựng các nhà máy ĐHN được thực hiện tại Hoa Kỳ cho Bộ Năng lượng . Tính toán cho thấy rằng việc xây dựng một nhà máy điện hạt nhân với một khối duy nhất công suất 1.300 MW cần 1.600 người , và việc xây dựng hai khối công suất ĐHN sẽ phải cần tới 2560 công nhân xây dựng .
Ngoài đội xây dựng (bao gồm cả xây lắp , thợ điện , thợ lắp ráp đường ống), còn cần các nhóm khác để quản lý và giám sát thi công , xây dựng bảo trì, cũng như các nhân viên của nhà thầu và người lao động chung của Chủ đầu tư, bao gồm cả đội ngũ vận hành và sửa chữa trong tương lai. Trong trường hợp xây dựng một khối 1300 MW, ngoài đội xây dựng 1.600 người sẽ cần thêm 800 người từ các nhóm chuyên nghiệp khác (bao gồm cả nhân viên bảo trì và khởi động, kiểm soát chất lượng , vv.)
Để so sánh, tại Ba Lan, kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân " Żarnowiec " trong 1982-1989 cho một khối công suất sẽ phải thuê 3.000 nhân viên, kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân " Warta " trong những năm 1987-1989 , cần phải có khoảng 2.000 nhân viên trong khối.
Trong tháng 8 năm 2012 , giám đốc điều hành của GE Năng lượng hạt nhân Hitachi ( GEH ) ở Ba Lan xác nhận rằng xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Ba Lan sẽ cần khoảng 4.500 người . Làm việc trong chuỗi cung ứng , phụ trợ việc xây lắp ĐHN, lúc cao điểm của công trình ước tính khoảng 2514-3110 người (tùy thuộc vào công nghệ lò phản ứng được xây lắp ) .
Trong năm 2008, Oxford Economics công bố một báo cáo về số việc làm khi mở rộng khai thác năng lượng hạt nhân của Mỹ . Các tác giả đã tính toán cái gọi là hiệu ứng số nhân. Vì vậy, khi xây dựng ta dùng số nhân là 0,33, trong khi để sản xuất vật tư thiết bị số nhân là 1.37 .
Những dữ liệu này chỉ ra rằng cứ mỗi 100 công nhân làm việc trong việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân tạo ra 33 việc làm thêm trong chuỗi cung ứng . Đối với mỗi 100 công nhân làm việc trong các nhà máy sản xuất vật liệu và các thiết bị tạo ra 137 việc làm trong chuỗi cung ứng (ví dụ , để sản xuất lò phản ứng áp lực , cần phải triển khai thêm công việc khác như khai thác quặng sắt bằng cách nấu chảy , đúc, sản xuất máy ép thủy lực , máy công cụ , vv.)
Có lẽ là với nhà máy ĐHN đầu tiên (2-3 khối công suất) phần đóng góp của ngành công nghiệp Ba Lan khoảng hơn 50% , với các khối tiếp theo, tỷ lệ tham gia sẽ được dần dần tăng lên, như đã thấy từ kinh nghiệm của các nước khác ( Cộng hòa Séc, Thụy Sĩ , Hàn Quốc . , Nhật Bản , Brazil và những nước khác ) . Cũng có thể sản xuất ngay tại Ba Lan một số thành phần quan trọng khi xây dựng lò phản ứng hạt nhân đầu tiên (sẽ tạo ra ít nhất 500 việc làm) .
Theo Oxford Economics , sản xuất thiết bị và vật liệu cho một khối ĐHN 1.500 MW cần 3110 lao động lúc đỉnh điểm , nhưng nếu xây dựng một Nhà máy ĐHN hai khối công suất trong khoảng thời gian 2 năm giữa khối 1 và khối 2 thì phải cần 4976 lao động . Giả định rằng phần đóng góp của ngành công nghiệp Mỹ khi xây dựng ĐHN ở Mỹ là 80% ( các công ty Mỹ đã mất khả năng sản xuất thiết bị chính cho hệ thống sinh hơi hạt nhân ( JUWP ) trong những năm 1980s do việc tạm dừng các kế hoạch xây dựng ĐHN mới , chỉ còn sản xuất các van lớn , đường ống và máy bơm ).Và giả định tỷ trọng của công nghiệp Ba Lan trong việc xây dựng các nhà máy điện hạt đầu tiên là 50% , khi đó có thể tính rằng việc xây dựng một khối công suất ĐHN sẽ tạo ra ít nhất 1.944 việc làm mới . Ở đỉnh điểm công trình sẽ phải sử dụng 3.110 người ( năm thứ tư của tòa nhà khối 1 và năm thứ hai của tòa nhà khối 2 , với giả định rằng một nửa các công việc được tạo ra tại Ba Lan ) .
Dựa trên các chỉ số trên và các mục tiêu , điều chỉnh dữ liệu của Bộ năng lượng Mỹ US DOE (2005) về việc làm trong xây dựng khối ĐHN , bạn có thể tính toán số việc làm tối đa trong việc xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên của Ba Lan như sau:
• 6470 việc làm trực tiếp tại công trường xây dựng và công nghiệp phụ trợ , trong đó 3360 công việc xây dựng và 3110 việc làm trong ngành công nghiệp phụ trợ.
• 14.687 việc làm trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế
Số lượng công việc này sẽ được duy trì ít nhất cho đến khi xây dựng xong khối công suất thứ 2 của nhà máy điện hạt nhân .
Các tính toán trên được ước tính , đã bị rút gọn thấp đi so với thực tế. Các dữ liệu mới nhất của Hinkley Point C cho biết lúc cao điểm phải huy động 5600 người . Sau khi điều chỉnh, số lượng việc làm trực tiếp được tăng lên đến 8710 , và trong trường hợp việc áp dụng hệ số nhân 3.27 cho Mỹ bởi Oxford Economics (2008) , ta sẽ có kết quả số việc làm được tạo ra là 28 482. Giá trị này có thể thay đổi do sự khác biệt trong cấu trúc của nền kinh tế Mỹ và Ba Lan và thực tế là các giả định cho Mỹ có thể không đúng với các điều kiện của Ba Lan. Ước lượng chính xác phải được thực hiện bởi các nhà đầu tư hoặc thuê ngoài để viện nghiên cứu chuyên ngành , đưa ra một dự toán đáng tin cậy có sử dụng mô hình kinh tế Ba Lan.
Phần lớn các đội xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ba Lan sẽ là người Ba Lan , và tỷ lệ lao động người Ba lan sẽ tăng dần nếu xây dựng các khối ĐHN kế tiếp – theo như kinh nghiệm của các nước khác.
Nhà thầu đầu tư nước ngoài thích thuê lao động địa phương và các kỹ sư , cũng như việc lựa chọn các công ty nước sở tại để ký hợp đồng phụ do chi phí lao động và chi phí hậu cần thấp hơn .
Việc xây dựng khối 3 của lò phản ứng hạt nhân EPR tại Olkiluoto (Phần Lan), (là một trong những loại lò phản ứng được đề xuất cho Ba Lan), lúc đông nhất có 4300 lao động, trong đó có 2.000 người Ba Lan , và hiện nay ở đó vẫn đang có 950 lao động Ba Lan làm việc. Rõ ràng là xây dựng nhà máy ĐHN ở Ba Lan, thì các công ty Ba Lan sẽ có một phần việc lớn hơn . Ước tính số việc làm của người Ba Lan khi xây dựng nhà máy ĐHN trong bài báo này dựa trên kinh nghiệm thực tế và hiện thực cuộc sống .
Tác giả: A Strupczewski, Ł Kuźniarski (poznajatom.pl)