Nước da đen sạm, mái tóc khô cứng, hoe vàng vì lâu ngày không gội, giọng nói khản đặc vì cảm mạo, người thợ xây ấy nghẹn ngào tâm sự với chúng tôi về những nỗi cơ cực trên đất Nga - những tháng ngày không thể nào quên trong cuộc đời…

Sang Nga làm thợ đổi đời...
Tuấn năm nay 30 tuổi, quê ở miền trung du thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, gia đình thuần nông, quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời mà chẳng tích lũy được bao nhiêu. Vì vậy, suy nghĩ và khát vọng làm giàu luôn thường trực trong tâm trí. Một ngày đầu xuân, nghe bà cô họ giới thiệu có công ty đang tuyển lao động sang Nga làm thợ xây dựng, Tuấn nghĩ đây có thể là cơ hội để thay đổi số phận cuộc đời mình…
Tuấn nhớ lại, hôm xuống Hà Nội, được cô giới thiệu trực tiếp gặp mặt với người giám đốc tuyển dụng, xem qua hợp đồng lao động, có công ty, có con dấu, chữ kí, có cả tên đường phố bằng tiếng Nga, thì yên tâm lắm! Hợp đồng rất nhiều điều khoản, nhưng điều khoản ấn tượng và dễ nhớ nhất là mỗi tháng sẽ được trả 400 đôla tiền lương.
Từ Hà Nội về nhà, Tuấn thấy lòng mình lâng lâng niềm vui khó tả, thế là đã có cơ hội đổi đời... Nhẩm tính trong đầu, Tuấn tự nhủ, với số lương như vậy, sau 3 năm làm việc, cũng có thể tiết kiệm được khoảng 200 triệu đồng, đủ để dựng được căn nhà, mua cái vô tuyến, cái tủ lạnh... và chắc chắn vợ con cũng đỡ khổ cực hơn.
Tối hôm ấy, vợ Tuấn thịt con gà mái đẻ, mời bố mẹ hai bên và anh em ruột thịt đến ăn mừng vì bước đầu Tuấn gặp được “quý nhân”. Cả nhà phấn khởi bàn bạc, quyết tâm dù khó khăn đến mấy vẫn phải lo cho Tuấn đi bằng được. Bán cái xe máy Tàu, hai con lợn, mấy chục con vịt và 3 buồng chuối, tổng cộng mới được 15 triệu, vay lãi thêm được 25 triệu nữa với giá 2% một tháng, Tuấn hồ hởi mang 40 triệu đồng xuống Hà Nội nộp cho công ty. Cả đời chưa bao giờ được cầm số tiền lớn như vậy, hôm đi Hà Nội nhà phải cử mấy người đi cùng áp tải.
Buổi chia tay ở Nội Bài, lòng Tuấn nặng trĩu buồn. Buồn vì thương bố mẹ đã già yếu mà mình không được ở gần để chăm sóc, thương vợ trẻ một nách 2 con, thiếu bờ vai khỏe mạnh của chồng để nương tựa. Cậu con trai 4 tuổi cứ loanh quanh cạnh bố và dặn tối về mua quà cho con. Đứa con gái 20 ngày tuổi, mắt vẫn nhắm nghiền, nằm trong lòng mẹ, môi mấp máy đón nhận những giọt nước mắt mặn chát của mẹ rớt xuống…
…Và bi kịch nơi đất khách quê người
Sang đến Nga, đoàn của Tuấn gồm 20 người được đưa vào một kí túc xá 5 tầng, trong một căn phòng rộng chừng 20m2. Ở đó bữa nào cũng chỉ có cơm nguội, sự u ám, chật chội và tăm tối. Cả đoàn ai cũng mệt mỏi, chán nản. Sau hơn một tháng lay lắt, cả đoàn cũng được sắp xếp công việc. Buổi chiều hôm ấy chiếc xe khách đưa đoàn ra ngoại ô thành phố và dừng lại ở một công trường xây dựng nằm giữa một cánh đồng ven rừng bạch dương.
Cả khu đất rộng được quây kín xung quanh, bên trong có mấy dãy nhà 15 tầng đã xây xong phần thô và đang trong giai đoạn hoàn thiện. Đoàn được bố trí ở trong một chiếc container bằng thép, nằm cạnh hàng rào bao quanh công trường, trong container xếp 10 chiếc giường tầng thành 2 hàng, ở giữa là lối đi rộng chừng 80 phân. Và từ đó, 20 con người gắn chặt với “ngôi nhà” ấy cho đến tận lúc Tuấn trốn khỏi công trường.
Đoàn của Tuấn được giao công việc hoàn thiện các tầng cao của ngôi nhà. Cả đoàn chịu sự quản thúc của một tổ trưởng (Người tổ trưởng này do công ty họ cử ra để giám sát. Nhiều lúc Tuấn cảm tưởng hắn như “cai ngục” thời Pháp thuộc, vừa lạnh lùng, lại hay soi mói và tàn nhẫn). Hàng ngày, công việc của Tuấn là vác xi-măng, xách nước, vác gạch từ tầng 1 lên tận tầng 12, lên lên, xuống xuống như kiến tha mồi về tổ.
Cực khổ là vậy, thế nhưng người đội trưởng thường xuyên đứng bấm giờ, nếu chuyến đầu tiên mà đi hết 7 phút, đến chuyến sau mà ai đi 8 phút lại bị mắng nhiếc là lười biếng, chậm chạp rồi dọa cắt cơm, cắt lương.
Trong căn phòng nhỏ, ánh mắt buồn rầu, giọng Tuấn nghẹn ngào: “Trước khi sang Nga làm việc, trong hợp đồng họ có ghi rõ, mỗi ngày làm việc 8 giờ, nghỉ ăn trưa 1 tiếng, một tuần làm việc 6 buổi. Vậy mà, sang đây, ngày nào em cũng phải làm 12 tiếng, cả tuần không hề có ngày nghỉ. Nhiều khi đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, xin nghỉ họ cũng không cho... Tủi nhục lắm anh à!”.
Làm việc cực nhọc nhưng việc ăn uống lại rất kham khổ, cứ 20 ngày thực phẩm lại được mang đến một lần, toàn đồ quá đát. Nhiều hôm Tuấn được cắt cử phụ trách việc nấu cơm, bỏ con cá ra rửa, nó nhũn nát ra. Có hôm chặt thịt gà, thấy xương bị mốc đen, thịt bốc mùi thum thủm, thế mà vẫn phải cho vào xoong nấu lên, vì nếu bỏ đi thì chẳng có gì để ăn cả. Lúc ở nhà, vợ mua cho ít thuốc đi ngoài dự định dùng trong 3 năm, thế mà mới dùng được một tháng đã hết.
Thấy tôi tỏ ý ngạc nhiên về sự cam chịu đến lạ lùng như vậy, Tuấn phân trần: “Anh đừng nghĩ bọn em hèn đến mức 20 người phải sợ một thằng đội trưởng. Chẳng qua bọn em nghĩ rằng mình phải cố gắng làm việc thật tốt để sớm có lương gửi về trả nợ. Ngoài ra, nếu mình chỉ cần hơi phản đối một chút thôi, nó đã lấy lý do vi phạm hợp đồng, sau này trừ lương, bắt phạt. Hơn nữa, đã có người bức xúc lên tiếng, nó cho công an đến dọa dẫm, bắt bớ, hộ chiếu thì bị thu từ lúc bước ra khỏi sân bay rồi, cho nên bọn em đành chịu nhục và nhẫn nhịn như vậy thôi”.
Thế rồi… cho đến một ngày, có 2 toán công nhân Việt Nam làm việc ở nơi khác được điều về công trường. Hôm ấy, do được ở nhà nấu cơm, may mắn gặp được một người đồng hương, Tuấn mới vỡ lẽ mọi chuyện. Người đồng hương tâm sự, anh cũng sang được 2 năm mà mới nhận được lương 2 lần, mỗi lần được 300 đôla. Họ giải thích là trừ tiền khẩu, tiền ăn uống, tiền thuế thu nhập, tiền phạt nên còn từng ấy. Có anh bạn, do bị ốm không thể đi làm được nữa, đề nghị cho về nước, họ cũng nhất trí.
Đến hôm thanh toán, 2 năm trời chỉ được 400 đôla, không đủ tiền chuộc hộ chiếu (muốn lấy hộ chiếu phải nộp 650 đôla). Do quá ức chế, anh bạn đã chửi bới, văng tục, văng bậy và thế là bị tống khỏi công trường. Không hộ chiếu, không tiền bạc, không biết số phận bây giờ ra sao?! Rất nhiều người trước đó đã bỏ trốn, còn anh và một số người khác không dám vì không có người quen ở Nga, lại không biết tiếng, không giấy tờ tùy thân.
Cuộc gặp vội vã với người đồng hương làm thay đổi quyết định của Tuấn. Sau bao đêm trằn trọc suy nghĩ, tính toán thiệt hơn, Tuấn đã quyết định trốn khỏi cái “trại giam lỏng” ấy, bởi vì, nếu không trốn chắc chỉ còn nước bỏ xác xứ người vì ốm đau, bệnh tật mà thôi. Bí mật gọi điện cho bà cô họ ở Việt Nam, Tuấn được cô giới thiệu cho một người lái taxi. Đêm hôm ấy, nhận được tín hiệu, Tuấn lẻn dậy và trèo tường ra khỏi công trường, chạy bộ hơn một cây số đến nơi hẹn.
Tuấn được đưa đến gửi ở nhờ một trang trại trồng rau của ông chủ người Triều Tiên, ngày giúp việc thu hoạch, hái lượm, tối ngủ ở bìa rừng, cũng có được miếng cơm để ăn, có chỗ để nằm. Ở nhờ cũng được nửa tháng rồi, hôm nay ông chủ nói, thu hoach đã xong, mấy hôm nữa ông ấy sẽ về nước, mùa hè sang năm mới sang để trồng trọt vụ mới. Tuấn ngỏ ý muốn xin ở nhờ và trông nom giúp, thế nhưng mùa đông, có gì đâu để mà trông nom ngoài bạt ngàn tuyết trắng và cái giá lạnh đến âm 40oC.
Khuôn mặt đen sạm lộ rõ vẻ lo lắng cực độ, Tuấn nói với chúng tôi: “Em lo quá các anh ạ! Bây giờ em không biết phải làm thế nào để được ở lại làm việc, kiếm đủ tiền về trả nợ lãi ở nhà. Em nhớ nhà lắm, thế nhưng nếu em về nước bây giờ, người ta dỡ nhà em để đòi nợ mất, bố mẹ, vợ con em biết ở đâu?”.
Màn đêm đã buông xuống. Ngoài kia, lá bạch dương rơi xuống phủ vàng những luống rau mới thu hoạch, báo hiệu một mùa đông lạnh giá sắp bắt đầu. Nhìn Tuấn ngồi bất động, thân hình gầy gò, đen đủi với ánh mắt bất thần, vô vọng, chúng tôi nhìn nhau mà lòng tràn đầy niềm thương cảm. Ai cũng thấy như mình đang mắc nợ anh, hay chính xác hơn, mắc nợ lương tâm một điều gì đó...
Không biết ngày mai Tuấn sẽ ra sao...
Điệp Oanh (hoidoanhnghiep.ru)