Bánh cuốn quê và chuyện hai người lính, hai nhà văn hai chiến tuyến.
| Việt kiều quyên góp ủng hộ đồng bào trong nước bị ảnh hưởng cơn bão số 9 |
Nguyễn Thế Việt gọi tôi giật giọng:
- Đi tìm thằng Tuấn!
- Hắn làm báo ở đây mà.
Chắc chỉ quanh quẩn trong trung tâm Sa Pa này thôi! - Tôi nói.
- OK! Để em gọi cho hắn - Việt bảo.
Chúng tôi luồn qua bãi ô tô. Bùn lép nhép dưới chân.
Đêm xuống dần. Xung quanh, đèn các dãy phố đã bật. Quán xá Sa Pa trong các khu chợ vào chớm đêm nhập nhoạng. Những dòng chữ quảng cáo, có cả CASINO... nhấp nháy...
- Đây, vào quán này ngồi tạm, chờ nó xuống!
Việt dẫn tôi vào một cửa hàng bán đồ châu Á. Tôi đưa mắt lướt trên dãy kệ, giá chứa đồ uống ăm ắp Whisky Mỹ, Cognac Pháp, Anh; Vodka Ba Lan và khá nhiều XO, Chivas, đủ để hiểu sở thích, gu uống ở Việt Nam cũng tràn sang đây. Và, cảm giác Sa Pa ở Séc này gần nhà hơn bên Trung tâm thương mại Đồng Xuân tại Đức, không chỉ ở khoảng cách xa hơn hai giờ bay!
Đây là một cửa hàng mà buổi sớm có gian hàng bán bánh cuốn nóng, tráng trên vải mỏng, y sì như ở quê nhà. Hơn đứt bánh tráng chảo chống dính béo - cách giả bánh cuốn nóng ơ, ở những gia đình Việt bên Đức. Cũng ăn tại chỗ, bưng ra bàn cho khách đĩa bánh hôi hổi nóng. Không phải tráng bánh ở tận đẩu tận đâu, rồi phong vào ni-lon, bán ê hề ở quầy hàng Châu Á bên Đức. - Mấy chị đang bộn rộn, giữa ngổn ngang cối, bột, vải lọc, kẻ ngồi xay, người đảo nồi hoà bột! “Sớm mai anh tới ăn bánh cuốn nhé!” “Ừ, mai anh tới!”
Đâu cũng thế thôi, sự mưu sinh của người Việt tỏ rõ lòng chịu thương chịu khó. Ở đây, chủ quán đã mang từ quê hương tới một cái cối đá chính cống để xay bột, tạo ra nước hồ bột trắng làm nên sự trinh bạch mỏng tang, có tên là bánh cuốn! Rồi có cả thứ chả sậm mầu, đậm ngon bậc nhất nhì ở miệng kẻ sành ăn, lại ngâm trong nước chấm cà cuống. Cà cuống nguyên con cắt ra, xộc hương thẳng lên, chứ không phải thứ dầu thơm hoá học, thơm đấy mà chửa chấm đã hết mùi! Quán em - Chị chủ quán bảo - Chúng em mua cà cuống nuôi từ nhà sang! Lại thế nữa!
Việt từ ngoài trở vào: “Hắn xuống đây rồi. Đây!” Việt nói rồi bước ra, đón một người gầy gầy. Cái áo bludông màu nhàn nhạt. Mắt sâu, mặt xương và trán rộng gồ lên, khuôn mặt phong trần! Tôi bắt tay Tuấn, như chợt như nắm vào đêm thu lành lạnh. Gớm, xăn rắn như băng mà người chả còn trẻ nữa. Tôi chưa kịp cất lời thì thật bất ngờ. Cái khuôn mặt là lạ, quen quen thản nhiên: “Anh không nhận ra em à?“, “Ai?” Gã, nhà báo - kẻ xưng là Trần Ngọc Tuấn, nheo nheo mắt nhìn. Tôi chưa kịp nhận ra người quen xưa, rõ tệ! Ngượng ngùng.
Bao nhiêu con người xa xứ lang thang tôi từng gặp. Những kẻ lạc quê thoáng đến, thoáng đi, thoắt thoáng tan hợp, rồi cùng trôi dạt, trên con đường kiếm sống, như hạt bụi, như sương khói bay tứ tán suốt hai chục năm qua...
Tô Hoài, ở Chiều chiều viết: để một chiều đọng xuống. Đọng xuống nơi nao, làm vạt bụi? Hình ảnh cũ mờ ảo. Ở Đức, tôi biết, có một Tuấn sống giữa chợ mà không buôn bán gì, sống nhờ báo chí, bạn văn Việt Nam biết thơ yêu Tuấn và Tuấn yêu thơ ra sao, song chả thể ngờ bao nhiêu năm, Tuấn chính là người năm ấy.
Đúng là thăm thẳm bóng người như Đỗ Chu viết. Cuộc xáo trộn Châu Âu như một cơn bão lớn quăng quật lũ chúng tôi, xô đi đẩy lại, chả thể ai ngờ! Như Đỗ Chu hôm nào ghé qua ở đây nói, làm báo như Tuấn một mình một báo tuần, ở nhà đã có thể làm một chân khơ khớ, chứ chả tới nỗi ở đây ôm một tờ báo tuần tia-ra vài ngàn số!
- Nhớ đi! - Hắn nhắc, cách đây hơn chục năm, em đã ăn cơm, ngủ qua đêm ở nhà anh. Đêm nào nhỉ? Anh Cao Xuân Huy! Nhớ không?
Nhớ ! Thế ra, trên cái mạng ồn ào ở không trung, nhà báo Trần Ngọc Tuấn, lại là cái thằng cu vào nghiệp văn rất sớm, mà chả cơm cháo gì, năm nảo năm nao, cùng nhà văn Cao Xuân Huy tá túc nhà tôi. Đêm nằm năm ở, vui với nhau nửa cuộc rượu chưa tàn.
- Nhớ rồi! Cao Xuân Huy, tớ vẫn gọi là gã Tháng Ba Gẫy Súng! Tôi lục vào tiềm thức. Ở khoảng trống mênh mông từng có Tuấn.
Năm ấy, vợ chồng tôi vừa có cháu thứ hai được hơn năm.
Trên văn đàn tiếng Việt nơi Đức, lẫn trong anh em thợ khách, bấy nay tôi giấu biệt dĩ vãng, rằng có tác phẩm từng in trên báo Văn Nghệ một thủa. Những tâm sự sâu kín ngày thường, không nói ra thành lời với bè bạn thân thiết, với người ruột thịt như cha tôi, với các anh chị em và con gái nơi quê hương...
Tất cả thời đầu xa xứ, sau khi tường Berlin sập đổ một năm biến thành một núi thơ ngun ngút tràn ngập nước mắt, để Bế Kiến Quốc chọn, in ba tập thơ... Ba tập thơ thỏm rơi vào im lặng! Đường văn tắc tị, nhưng tôi còn phải sống. Tôi còn phải lần hồi kiếm sống nuôi thêm đứa con như đoá hoa mới nở.
Ngày lại ngày, tôi đi bán hàng 16 tiếng và cứ đúng 3 giờ sớm ngồi dậy âm thầm đọc và viết! Đấy là một thời gian kinh hoàng nhất của cá nhân, buộc anh thợ khách là tôi trườn lên tất cả. Nhọc nhằn, hạnh phúc và cả khổ đau!
Tôi và vợ dọn sang nhà mới. Phòng khách, nơi đêm đêm tôi ngồi viết và đọc, nơi phòng văn, tôi treo lên lá cờ đỏ sao vàng. Và, kế đó là bức chân dung màu nước tự họa của cha tôi. Tôi nhớ người cha ở lời dặn, xã hội càng bất yên, biến động thì mình phải tĩnh, lấy cái bất biến, ứng vạn biến, dầu cho quanh quanh, khi ấy láo nháo trong đời sống tâm thức chả yên.
Cao Xuân Huy khi ấy đang thăm em là Mai Lâm tại Moelln. Một sớm, ông anh không nói với cậu em, đùng đùng rủ Tuấn đi Berlin. Tôi đón hai người vào phòng khách. Qua cửa, họ bắt gặp ảnh, cờ, tranh. Tuấn không nói một lời.
Sau mới tường, Tuấn kém tôi dăm tuổi, song trải đời, từ Tiệp nhẩy sang ở Berlin. Tôi chạm vào ánh mắt Cao Xuân Huy, ánh mắt nói hộ rằng, khách văn Cao Xuân Huy có vẻ khó chịu. Cũng không lạ! Bởi cựu trung uý thuỷ quân lục chiến, người đã viết cuốn sách “Tháng ba gãy súng”, có phẩm cách của người lính dũng cảm, tất nhiên sẽ gợn khi tới nhà tôi.
Một người giữa xứ Mỹ, nhớ lại dặm trường khói bụi xưa, viết hết, tuột cả ra, ứ tràn hơn ba trăm trang sách, về cái trận tháo lui khốn nạn của cánh quân, từng được giới chính trị và quân sự Sài Gòn nuông chiều nhất. Chuyện kể Tháng Ba đám lính trận, có đại đội anh, từ Đà Nẵng chạy tuốt, không còn một mảnh giáp, về tận Sài Gòn...
Anh viết, một giọng văn tuyệt nhiên chả giống ai trước đó, không bao che, tự biện, hầm hập hơi thở chiến cuộc, đời sống thằng lính trận mạc, trong cuộc nhìn sự vật vô tư. Lại hồn nhiên không tự nhận là tiểu thuyết và danh xưng nhà văn. Tháng Ba vạch ra cái “sự gẫy“ cánh quân một thời, tụi tôi coi là đối thủ. Giọng văn anh chàng trung uý thoả mãn cái kiêu hùng, thảm bại.
Cuốn sách viết tận bên Hoa Kì, không sợ đám đầy hận thù cực đoan đáp lựu đạn vào nhà. Sự thật là, khi Mai Lâm chuyển cho tôi đọc, “Tháng Ba gãy súng” làm tôi suy nghĩ rất nhiều.
Tôi cho là, về thủ pháp cấu trúc, xây dựng nhân vật ở Cao Xuân Huy, có bút pháp gây không khí rất hay, làm người đọc tin ở sự thật đã qua. Lòng dũng cảm của người lính trong ấy được độc giả là tôi- phía bên kia nhận ra, không chỉ ở thực tế đã trải nghiệm, nó giờ đây được Huy tái hiện trên cả oán thù, lại thản nhiên thừa nhận sự kiêu dũng là thuộc phía chúng tôi…
Một người lính trước sau là một người lính như vậy, đủ để mà tôn trọng, nói chi tới tâm thế nhà văn trong Huy. Chính vì thế, phải nói cho anh ấy rõ, tôi cũng là một người lính. Phải cho tỏ, ngô ra ngô và khoai ra khoai! Nhất là, chúng tôi khi đó, đang sống trong một môi trường nháo nhào thật giả, trắng đen, nhộn nhạo.
Tôi không khiêu khích đâu! Lá cờ kia, Tổ quốc và niềm tin của cá nhân tôi. Ông có treo cờ không? Tôi hỏi, ở Mỹ ấy! Có chứ- Huy nói. Vậy ông treo cờ gì? Tôi treo Cờ ba sọc mầu, lá cờ chúng tôi đã chân thành chiến đấu cho nó một thời!
- Vâng, nếu tôi tới nhà ông, ông Huy ạ, tôi cũng tôn trọng cách hành xử của ông. Tôi không khiêu khích ông. Nếu ông cảm thấy xúc phạm, đau đớn, ông ra bếp mà uống rượu! - Tôi chậm rãi nói và nhìn thẳng vào mắt anh.
Ánh mắt Huy đỡ gắt, dịu đi. Tôi nhẩn nha nói tiếp:
- Tôi và bà xã đã làm cơm chờ anh từ sớm. Huy biết không, nguyên tôi là lính cựu 11 năm trận mạc, có thừa cái khôn của sự tìm cái sống trong cái chết và cái logic thông thường, thế là tôi đoán, từ nhà Mai Lâm lên, anh sẽ thăm tôi.
Tôi trân trọng cuốn “Tháng Ba gãy súng”, không phải vì nó nổi tiếng. Nó làm tôi chia sẻ được khi nó thật! Cái đau của thằng lính, đau đến nao lòng! Sự cảm thông của người với người thật vô biên. Như cha tôi dạy, sự chân thành không biên giới, vô lượng, có thể cảm thông cả vũ trụ.
Bấy giờ, Huy ngồi đối diện và nhẩn nha uống, nhẩn nha kể, nhẩn nha vui...
Tôi và hắn gặp nhau, khi cả hai đã trút bỏ quân phục. Được cùng nói sạch sành sanh, một cách thẳng băng về chuyện cũ, về quan niệm sống cá nhân hai thằng, về yêu và dục tính ở thời loạn.
Bây giờ, giữa hai thằng lính, giống nhau ở trạng thái tha nhân. Chúng tôi là những người con da vàng máu đỏ. Huy và tôi, rồi cả Tuấn, cả nhạc sĩ Mai Lâm, người em cùng mẹ khác cha của Huy, là bạn thân của tôi nữa, thế hệ sau chúng ta là một loài hoa...
Tôi uống và nói như lên đồng. Cao Xuân Huy kiệm lời hơn và uống không khá. Rượu thì phải say! Có say cũng là sự say tương đồng về tình yêu mảnh đất nhỏ nơi xa, cái hình chữ S, như cô gái nón múa chao nghiêng, giữa trời “mùa biển động“ đầy giông bão khắc nghiệt, gắn kết con người ta vào một khoanh đất cụ thể. Yêu như thế, tình yêu như thế, hai kẻ xa quê, sao lại không thương lấy mình và thương lấy nhau hơn, để cho một điều lớn hơn là Người mẹ nơi quê nhà.
Tôi đi bên Tuấn, rời khỏi Sa Pa, đêm thu lạnh thế.
Tuấn Sapa và Truyền soái giầy
Nhà thơ Trần Ngọc Tuấn
|
Tôi đi theo Tuấn. Thế mà bao nhiêu năm, chả ngờ gặp Tuấn ở đây, lại phiêu bạt ở chính nơi hắn bắt đầu ra đi tìm kiếm thêm ngày mới và điều mới.
Tôi không bao giờ hy vọng Tuấn xông xênh mũ áo, đi xe BMW và ngậm tẩu. Tôi cũng chưa khi nào nghĩ, hắn sẽ trở thành một lãnh tụ, chỉ huy đám ai đó cầm bút làm gươm chơi Bút máu.
Dù cho là ở xứ sở tự do tương đối nhất này, mỗi cá thể đều có thể làm được nhiều điều oái oăm: ví như kẻ nói xấu đất nước giỏi nhất, tàn nhẫn và cực đoan nhất, miệng hô dân chủ xong sẵn sàng chọc dao vào ngay bè bạn, khi bạn khác quan điểm, hoặc bạn trung tín với một niềm tin.
Sự đau đớn khi chợt nhận ra, những con lạch đổi dòng ấy, lại là những kẻ được hưởng quyền và lợi ngay từ trong trứng. Chỉ cần một sở cầu không thoả mãn, thậm chí sở cầu dở hơi, không phải mục đích sống, là có thể coi nhau như hận thù...
Cái bóng đi trong đêm thu ảm đạm Praha, chưa mỏi mệt tới mức như tôi, sau một ngày làm việc, chỉ muốn trèo ngay lên giường nệm ấm. Tuấn làm việc, du chơi khắp thế giới và vẫn đăm đắm với văn chương, tình yêu của anh. Hôm nay anh có gì?... Ngọn nến hôm nay có phải ngọn nến của hôm qua?
Trước tiên về gốc cội, Tuấn là con em của số cán bộ cách mạng từ miền Nam ra tập kết. Anh học trường Nguyễn Văn Trỗi, nơi anh rể tôi dạy văn. Anh cũng khởi nghiệp văn, bằng những vần thơ từ rất sớm. Và, bè bạn văn của anh, giờ đây cũng ngôi thứ rõ ràng ở văn đàn. Đi tìm những khao khát của mình, Tuấn như con thuyền nhỏ còn lênh đênh, giờ lại dạt về đây!
Sau nữa, Tuấn yêu văn chương, say bạn văn, những Thuỵ Kha, Trọng Tạo, những Tuyết Nga v.v... Bác Đỗ Chu sang cũng đều tạt ghé qua đây. Cái điếu của bác Đỗ Chu góc nhà còn kia. Nhà Tuấn bấy nay vốn là nhà trọ của khách văn thập phương, ai đi xa về gần tới Séc, ghé qua Sa Pa này mà tới Tuấn…
Anh là cái người yêu văn như kẻ nghiện ma tuý, rượu, hay nhẹ như nghiện thuốc lào: chôn điếu xuống lại đào điếu lên. Như đêm nay, hắn hỏi tôi uống gì, rồi đùng đùng mua rượu trắng, thứ tôi thích. Ra khỏi quán, Tuấn trao cho Việt cái túi, tuyết trơn, lỡ rơi, chai rượu nổ cái đốp.
Vỡ chai này mua chai khác! Phải say! Quên túi luôn rỗng rễnh, quên việc làm báo chả nhiều tiền, quên cả vợ giục gọi nửa đêm, Tuấn đúng là týp người giữa chợ đời vẫn mơ theo trăng, vơ vẩn cùng mây, sống cùng mình, cùng đời với kỉ niệm của cá nhân trong ăm ắp nhớ thời, nhớ người!
* * *
Nguyễn Thế Truyền đang say sưa thuyết giảng về cách pha trà
|
Sớm hôm sau Tuấn dẫn tôi lên văn phòng báo nơi hắn làm việc: Sức sống. Ở phía sau, kế bên có hành lang ngoắt nghéo. Tuấn dẫn cả bọn sang một gian phòng khá rộng, kê một bàn bi-a nho nhỏ và bộ ghế xa-lông. Một người vẻ phong lưu đầm đậm tiếp tụi tôi. Tuấn bảo, hắn là Truyền. Nguyễn Hữu Truyền. Truyền buôn giầy. Có nhà máy làm giầy, đang có vụ cạnh tranh với hãng giầy Adidas.
Truyền bảo, giầy em có ba sọc, ba cái sọc có thêm hình răng cưa và vạch nối khác ba cái sọc của Adidas. Tôi thấy quanh phòng Truyền có nhiều bình gốm giả cổ, tân thời lẫn lộn. Truyền bảo, cái bình kia năm sáu ngàn Euro.
Với tôi, thoạt đầu, cái phòng của Truyền y như phòng tay trọc phú. Vì có trọc phú mới bầy biện kiểu dọa nhau bằng tân thời giả cổ, tính theo tiền ngàn Eu thế kia. Vậy mà ở đời, có khi vậy mà không phải vậy. Đấy là số bình em đánh sang đây bị ế! Anh ngồi đây uống trà đã! Truyền đưa chúng tôi tới ngồi bên chiếc bàn trà gỗ.
Hoá ra, Truyền là tay giang hồ thứ thiệt. Tay chơi văn hoá bậc số má nơi đây! Hắn, tủm tỉm cười! Sau mới biết, kẻ có chút của ăn của để ở Sa Pa này, từng là thuỷ thủ làm thuê trên tàu đánh cá Hàn Quốc.
Hắn kể, kiếp làm thuê của hắn ở thuyền Hàn là 16 giờ quần quật, có bận chủ tàu nó bảo, trên bờ có luật pháp, ở tầu chỉ có tao! Ba năm lênh đênh ở biển, Truyền cay đắng nhận ra rằng, không thể thoát khỏi kiếp nhọc nhằn ở tư cách làm thuê.
Người Hàn dạy cho hắn đạo làm việc chăm chỉ. Thuyền Hàn, lao động khổ sai, thuỷ thủ đánh cá giữa biển, dạy cho hắn nhiều điều cay đắng mà bứt phá vươn lên chăng? Truyền buôn Đông về Tây.
Ai ngờ, hắn lại tỏ ra là tay chơi trà có hạng. Chúng tôi ngồi quây lấy Truyền, để hắn biểu diễn pha trà. Thôi rồi lượm ơi, tôi gặp tay tổ chơi trà có hạng! Chuyên nghiệp tới mức tôi phải mở to đôi mắt, giỏng tai mà nghe hắn nói về trà Quan Thế Âm có mấy loại, Trà Ô Long uống thế nào. Những cái bình sắt vuông cao vẽ rồng phượng, tố nữ…
Truyền mở nắp ra, đưa lên mũi tôi, hương trà mộc bay lên ngào ngạt. Cha tôi từng bảo, chơi trà có hạng phải là thứ trà không ướp tẩm hoa, để mộc mà hương cứ xông lên ngào ngạt. Pha hãm ra sao cho ba bốn nước rồi, trà vẫn giữ nước xanh rờn tới vậy.
Nghệ thuật ẩm trà của tay trọc phú này thực tới kinh ngạc, lại khi hắn mang tới bàn trà mấy tờ giấy và rót nước trà lên đó, để khách tôi lau mắt và lau miệng. Nước pha trà hãm được hắn tính đếm từng giây, cho sự xác định nước đang ở bao nhiêu độ, mới làm trà chín đủ, giữ xanh cái nước, đượm cái hương.
Hết hương của trà, Tuấn lại giới thiệu, bạn em là giọng ca vàng. Truyền đi tới góc nhà, trên bàn làm việc, có bộ âm thanh đặt kín đáo. Hắn bật cho tụi tôi nghe cái băng C.D mà hắn thu ở Việt Nam. Giọng ca ấm, tràn trề cảm xúc, bài ca nói thuần về quê hương Việt Nam yêu dấu vang lên trong gian phòng giữa chợ Sa Pa.
Tôi cúi đầu, nhận ra cái nuột nà, luyến láy thật điệu nghệ của tay ca sĩ nửa mùa! Mà đâu chỉ có thế, chúng tôi chuyền tay nhau đọc một bài thơ mới của Truyền. Vài ngày sau, tôi còn đọc hai cái truyện ngắn của gã, mà chi tiết rất sắc, ám ảnh và lạ.
Thế đấy, ở người kinh doanh này, trí thức và trải nghiệm đủ cho hắn phát lộ, mà vừa tìm thấy tiền lại âm thầm sáng lên ở Sa Pa sắc sảo ngay từ biện pháp kinh doanh hữu khôn lắm khi hắn nói: Tội quái gì làm giầy gia công cho Tầu, khi mà mình chính là người lưu thông bán buôn!
Đúng là sức sống Việt! Sức sống mà đòi hỏi mỗi người làm ăn không chỉ dựa vào cần cù chăm chỉ. Thế mới tỏ, văn hoá doanh nhân ở một khoanh đất Séc nơi có người Việt sinh nhai nó sinh động ra sao!
Sa Pa sớm hôm sau vẫn chìm trong ảm đạm. Chúng tôi lại đi giữa nhốn nháo Sa Pa chen chúc ngày Chúa Nhật, ngày dân buôn bán tứ xứ kéo về đây. Tôi gặp tiếp những người như Truyền, vài doanh nghiệp vừa vừa, nhỏ như ông Lâm, ông Hội và thoáng thoáng bao em Việt đẹp như hoa tuyết đầu mùa đông sớm bay giữa chợ.
Chúng tôi ăn bánh cuốn nóng và nói về trận bão miền trung Quảng Đà, Huế, quê mẹ Tuấn. Cái thông tin sớm nay bật mạng báo về cơn bão tràn tàn phá Đà Nẵng, Quảng Nam và Huế nội đô ngập trắng ra sao. Những thông tin của tờ báo Tuấn bàn tới cứu trợ, chi viện, quyên góp làm một thằng ở Đức như tôi thấy như mình có lỗi với quê nhà v.v…
| Từ trái sang phải: Tiến sĩ Nguyễn Thế Việt, nhà thơ Trần Ngọc Tuấn, Nhà báo Đinh Văn Hội, Tác già và nhà doanh nghiệp kiêm chủ nhiệm báo Nguyễn Đường Lâm |
Thay cho lời kết
Ngay đêm ấy tôi trở về nhà ở Teltow. Về tới nhà mới vứt đi cái túi bánh qua hai ngày đã khô không khốc của nhà văn già Lê Xuân Quang. Khi qua biên giới kim vụt chỉ hết xăng. Hết xăng là nằm lại dăm tiếng giữa rừng là cái chắc.
Thế mà Việt định vứt túi bánh hôm rời nhà Tuấn. Nửa đêm bật máy lên, thấy thư của ông chủ tịch hội đồng hương Quảng - Đà. Mọi sự gần như trùng hợp với mảnh đất miền Trung mà chúng tôi quan tâm.
Thì ra cùng với bà con ở Sa Pa, tại Đức, bao nhiêu hiệp hội cũng cùng nhau quyên góp tiền và hàng cho Quảng - Đà, nơi vừa xảy ra lũ lụt kinh hoàng. Những tấm ảnh lũ lụt của đám anh chị em miền đất giông gió ấy, nơi tôi và Huy quần nhau một thủa, nơi sinh ra Tuấn và có thể nhiều người tha hương ở Sa Pa, làm tôi xúc động.
Có ai hiểu cho đồng bào tôi ở Đức, ở Séc còn một nắng hai sương lắm mà vẫn chắt chiu gửi về từng đồng Cuaron và Euro, khắc phục cơn bão số 9. Ảnh của đám ông Trương Văn Địch, ghi lại cảnh các cháu ở Việt ở Đức bổ lợn, gom từng chục Cent, làm gai gai cái thằng tôi chai sạn.
Không biết bên Sa Pa giờ này họ, đám tất bật chợ búa như tiệm hớt tóc của vợ Tuấn, cũng gom được bao nhiêu tiền cho miền Trung? Tôi xin chép lên đây vài số liệu này gửi cho bạn bè tôi ở chợ Sa Pa.
Có lẽ làm ra nhiều tiền, cũng chỉ tiêu và tiêu tiền vừa là hạnh phúc vừa là nghệ thuật. Mà tiêu vào quê hương, cho mảnh đất sinh ra mình, giải hết oan trái của siêu nhiên, là sự tiêu có hậu nhất:
| Vừa qua Hội Đồng hương QN-ĐN chúng ta đã có phong trào quyên góp giúp đỡ đồng bào quê nhà bị thiệt hại do cơn bão số 9 gây ra, số tiền quyên góp được đến ngày 12.10.2009 là11.056,00 Euro. |
Nguyễn Văn Thọ (Nước Đức, đầu đông 2009)Tiền Phong