Liên Xô sụp đổ, nước Nga rơi vào thời kỳ “hậu Xô viết” kéo theo số phận của hàng chục ngàn người Việt lâm vào cảnh bế tắc. Trong cuộc lựa chọn mang tính định mệnh giữa ở và về, nhiều người Việt đã quyết định ở lại.
20 mùa gió tuyết đã qua, người Việt ở Nga đã kiên trì sống và tạo nên sức mạnh cho cộng đồng Việt như thế nào giữa khắc nghiệt của gió tuyết và đổi thay thời cuộc? Phóng viên Thế Anh đã trở lại nước Nga và mang về những tường trình xúc động...
Kỳ 1: Trên “nước Nga mới”
Liên Xô sụp đổ và tan rã năm 1991, khủng khoảng tài chính năm 1998 và chợ Vòm đóng cửa năm 2009... là những dữ liệu thời sự liên hệ trực tiếp đến sự sống còn của cộng đồng Việt trên đất Nga. Hình như những dấu mốc đổi thay luôn là một bài toán vận mệnh đeo đuổi dai dẳng không có đáp số với những người con nước Việt trên miền tuyết trắng này.
| Trong gió tuyết, người Việt ở Nga đã gầy dựng cơ đồ từ hai bàn tay trắng - Ảnh: Thế Anh |
Trở thành “người Việt mới”!
Khoảng sau năm 1985, khi nền kinh tế Liên Xô rơi vào trì trệ nặng nề cũng là lúc những thế hệ người Việt “hợp tác lao động” cuối cùng đặt chân đến đây. Cũng như bao thế hệ đàn anh, họ đến nước Nga lạnh giá bằng dép lê, áo vải mong manh và một giấc mơ bàn là, quạt điện. Nhưng ấm êm qua nhanh, biến động liên tục ập đến, rồi họ bị cuốn theo vòng xoáy định mệnh của lịch sử...
Đến năm 1989-1990 thì nhiều nhà máy đóng cửa hoặc hoạt động cầm chừng, thậm chí phải nợ lương công nhân. Khó khăn, nhiều công nhân Việt đã “chân trong, chân ngoài” để cầm cự.
Anh Nguyễn Văn Tưởng nhớ lại: “Hầu như ngoài giờ làm chúng tôi không được phép rời ký túc xá, trừ ngày nghỉ. Nhưng do lương bổng thất thường, chúng tôi phải trốn hoặc xin bảo vệ ra ngoài sau giờ làm để kiếm thêm. Đứa thì ra chợ trời buôn bán vài thứ vặt vãnh, đứa tập tành đổi “xanh” (“xanh” là đôla Mỹ theo cách gọi của người Việt ở Nga - PV).
Đồng rúp liên tục mất giá, nhiều khi nhận lương xong chỉ đủ mua bánh mì ăn qua quýt.” Công nhân đã khổ, những người đến Nga theo diện du học sinh còn khổ hơn. Chút học bổng ít ỏi chẳng đủ để cầm cự trước cơn bão giá, nhiều anh chị em phải ráng học nốt những trang sách còn lại trong cơn đói cồn cào. Có người chịu không nổi cơn bỉ cực đã bỏ trường, tìm đến chợ trời mong qua ngày đoạn tháng...
Hợp đồng lao động hết hạn đúng vào lúc Liên Xô tan rã, chị Đoàn Thị Hòa cũng như nhiều bè bạn cùng lứa chẳng có tiền để đóng hàng về nước. Lưỡng lự giữa chuyện ở - về, chị tâm sự: “Về thì vốn liếng cũng chẳng đáng là bao, ở lại thì chẳng biết tương lai sẽ đi về đâu? Lúc ấy, những người bạn Nga thân thiết cũng thật lòng khuyên: Các bạn nên về nước, ở quê nhà vẫn tốt hơn. Ở lại rồi sẽ ra sao? Ngay chính bản thân người Nga chúng tôi cũng không biết trước được tương lai của mình thì các bạn làm sao sống nổi?”.
Nghe lời khuyên của người bạn Nga, chị Hòa móc những đồng rúp còn lại mua vài cái bàn là, gói ghém mấy cuốn sách Chiến tranh và hòa bình, Thép đã tôi thế đấy... cho vào thùng.
Chị Hòa kể về giờ phút quyết định: “Công ty đưa đến sân bay, làm thủ tục vừa xong thì có mấy người bạn cùng đoàn quyết định trở ra để ở lại. Phần lớn anh em nói lỡ mang tiếng đi Tây mà về tay không thì nhục. Chỉ còn nửa giờ máy bay cất cánh, người bạn thân nhất trong đoàn quay qua hỏi tôi: Ý mày sao? Lưỡng lự một lúc, tôi chụp cái túi xách, bước vội ra khỏi sân bay. Hàng hóa, áo quần đã... bay một mình về nước. Chúng tôi ở lại với vài đồng rúp ít ỏi và trở thành “người Việt mới” trong một “nước Nga mới!”.
Những ngày đen tối
Chị Lan, một người đến Nga năm 1986, tâm sự: “Bỏ nhà máy, chúng tôi sống lây lất rày đây mai đó. Đứa ở nhờ nhà bạn bè người Nga, đứa gom cả chục người trong cái phòng chật hẹp để tiết kiệm chi phí. Vào thời kỳ ấy kiếm tiền đã khó mà mua hàng còn khó hơn. Tôi còn nhớ trước cửa hàng luôn có cả một hàng người dài dằng dặc, có khi mất nửa ngày mới mua được ổ bánh mì chỉ đủ ăn cho một ngày. Nếu trước đó người Việt luôn được ưu ái thì vào thời điểm ấy chúng tôi phải chịu những cái lườm nguýt từ chính người Nga. Vì khó khăn mà ra cả, nhiều khi ổ bánh mì cũng mặn chát vì nước mắt buồn tủi...”.
Anh Trần Văn Thành, thợ xây ở thành phố Volgagrat thời đó, kể lại: “Đi đâu cũng gặp mỗi một câu hỏi: Ở hay về? Chúng tôi ở trong lòng nước Nga còn đỡ, nhiều anh em đồng hương ở tận các nước cộng hòa xa xôi thì cơ cực vô vàn. Họ phải lặn lội hàng ngàn cây số, vượt qua những biên giới mới dựng lên để tìm về Matxcơva mong bạn bè trợ giúp. Có đứa hết tiền lạc đâu đó dọc đường, có đứa bị cướp bóc đến giờ vẫn chưa biết tin”.
Lúc ấy, nhiều người Việt đã chạy trốn gia đình và cả chính bản thân. Anh Hoàn, một nhân chứng của biến cố lịch sử, kể: “Hầu hết chúng tôi chẳng ai thèm viết thư hay gọi điện về dù thường xuyên nhận được những bức thư nhòe nước mắt của cha mẹ nơi quê nhà. Nhiều người chán nản bỏ về miền quê kiếm sống, có người bạo gan tìm đường rời khỏi nước Nga. Tất cả như một bầy ong vỡ tổ, tứ tán khắp nơi, làm đủ thứ nghề có thể để cầm cự nơi miền gió tuyết...”.
*
Kỳ 2: Bài học từ “chợ cầm tay”
Bước ra từ nhà máy, giảng đường... vốn liếng của “người Việt mới” chẳng đáng là bao. Thứ vốn liếng quý giá nhất mà họ có được là sự cần mẫn, chịu khó mang đi từ quê nghèo.
Chỉ vài cái quần bò, vài chiếc khăn vắt ngang tay... họ chôn chân giữa cái rét buốt xương để mưu sinh ở chợ tạm ven đường. Từ gian khó và cùng cực, người Việt đã tích cóp từng đồng từ “chợ cầm tay”, nghề buôn của người Việt ở Nga bắt đầu như thế...
| Từ giảng đường hay nhà máy, người Việt bước ra “chợ đời” bắt đầu bằng những bước chân như thế này đây - Ảnh: Thế Anh |
Vỡ lòng buôn bán xứ người
Trước khi Liên Xô tan rã, nước Nga mấy chục năm không hề có chợ, nếu có cũng chỉ lèo tèo mấy cái chợ quê. Đó là nơi những người nông dân đem bán mấy củ khoai tây, cà chua, bắp cải trồng trong vườn. Còn lại muốn mua từ kim chỉ đến chiếc xe Volga đều phải vô cửa hàng bách hóa quốc doanh.
Liên Xô tan rã, các chợ “mết” (phiên tắt của từ metro - tàu điện ngầm) mọc lên một cách tự phát như nấm. Hễ ở đâu có metro, đông người qua lại là ở đó có chợ.
Anh Vũ Ngọc Hà, một cựu doanh thương ở “chợ cầm tay”, giải thích: “Gọi là chợ nhưng thật ra cũng chỉ là trò bán dạo dọc đường, người ta trải bao tải xuống nền đất, đặt lên đó vài thứ hàng vặt vãnh là thành chợ. Người nào có ít thì cầm cái quần bò, hay vắt khăn quàng cổ trên tay, đứng mời chào người qua đường. Người bán thường vắt hàng trên tay là để tiện chạy trốn khi công an rượt đuổi, tên “chợ cầm tay” cũng từ đó mà ra”.
Phần lớn người Việt đến Nga lúc đó đều xuất thân từ tầng lớp nông dân, lại quen với lối tư duy cũ nên việc kinh doanh đối với họ là một khái niệm hoàn toàn xa lạ. Nhưng vì khó khăn nên người này học người kia, người kia dìu người nọ, tất cả đều tìm đến “chợ cầm tay”, trước là để tìm cái ăn qua ngày, sau là để tập tành học nghề buôn. Bước ra cơ chế thị trường từ nhà máy và giảng đường, nhiều người Việt lúc đó đã phải trả giá khá đắt.
Chị Loan, một doanh nhân trưởng thành từ “chợ cầm tay”, cho biết: “Những ngày đầu chúng tôi phần lớn như “con gà mờ”, nhiều người bị lừa chẳng còn đồng dính túi. Chính bản thân tôi cũng te tua mấy bận mới nên hôm nay. Vào lúc đó đâu chỉ riêng người Việt mình đổ ra chợ “Mết” đâu, người Trung Quốc, Triều Tiên, Tajikistan, Gruzia, Thổ Nhĩ Kỳ, Kazakhstan... đều đổ ra đấy kiếm sống cả.
Mà không phải ít, riêng ở Matxcơva lúc đấy cũng có đến hơn triệu người nhập cư như chúng tôi. Người Việt mình đã nhỏ bé, lại là thân con gái nên giành được một chỗ đứng tốt đã là khó khăn lắm rồi. Nhiều hôm tôi chỉ biết đứng khóc khi bị mấy gã to lớn giành mất chỗ, giật khách. Có khi bị công an rượt đuổi mất hết hàng, lại phải đi vay mượn bạn bè làm lại từ đầu”.
Còn chị Nguyễn Thị Hóa thì nhớ: “Mới tập tành đi buôn nên chúng tôi chẳng biết gì về hàng hóa, chất liệu và giá cả. Nhiều lần đi lấy hàng sỉ mà bị cắt cổ hơn cả giá bán lẻ. Có lần cả hội gồm năm người Việt đi lấy áo quần thể thao về bán, do cả tin nên bị chủ hàng đánh tráo loại áo quần mỏng như vải màn. Thế là đành đem bán ở “chợ cầm tay” với giá chỉ bằng 1/4 giá lấy vào mà chẳng ai mua.
Cả nhóm đã đổ hết vốn vào đấy, hàng thì không bán được nên chẳng còn lấy một đồng mua bánh mì lót dạ. Suốt cả tuần, mấy anh em chỉ biết mua hạt hướng dương về cầm hơi giữa mùa đông giá rét”.
Đồng tiền xương máu
Cái đói thì đã đành nhưng cái rét khi nước Nga vào đông mới thật sự kinh khủng. Anh Thưởng, người đã lặn lội ở “chợ cầm tay” năm năm, tâm sự: “Trời âm đến 20 độ nhưng chúng tôi phải dậy từ lúc 4giờ sáng, lội trong tuyết ngập đến gối để giành chỗ bán. Ra đến chợ trời vẫn còn tối mịt, anh em phải gom giấy, gỗ mục nhóm lửa sưởi ấm chờ trời sáng.
Khi người Nga bắt đầu đến công sở cũng là lúc anh em chúng tôi luôn miệng mời chào, tuyết phủ trắng cả người vẫn phải kiên trì chôn chân giữa băng giá để bán từng đôi bít tất, từng chiếc khăn quàng cổ cho đến tận chiều tối. Chiều xuống cũng là lúc ai nấy đuối sức vì ngấm lạnh, tay chân tê cứng, tai đóng băng... Nhiều người chịu không nổi phải vừa rao vừa nhảy tưng tưng như con kangaroo để khỏi cóng chân!
Có người sáng đến “chợ cầm tay” cười còn tròn miệng nhưng chiều về thì miệng méo xệch vì rét và trúng gió độc. Bạn bè tôi có người vì cảm lạnh rồi tràn dịch màng phổi mà qua đời khi mấy cái quần bò vẫn còn nguyên trên tay!”.
Trong lúc giao thời đầy loạn lạc ấy, nhiều nhóm tội phạm đến từ các nước Trung Á được dịp trỗi dậy và nhiều người Việt đã trở thành nạn nhân của chúng.
Anh Hoàn, người bỏ nhà máy từ năm 1989 ra buôn bán ở chợ trời, kể: “Để tránh rủi ro, chúng tôi thường đi thành từng nhóm và cố về nhà thật sớm. Nhưng nhiều khi cũng không tránh hết được, bạn tôi có người bị chúng giết và cướp sạch cả vốn liếng. Lúc đó đồng rúp rớt giá từng ngày, vì thế bán xong hàng là anh em chúng tôi mua “xanh” liền. Để tránh bị cướp, chúng tôi thường cuộn “xanh” lại rồi giấu vào hậu môn. Nhiều khi về đến nhà thì quần đầy máu, tiền lời không đủ đi bệnh viện...”.
Nổi tiếng sầm uất và lộn xộn nhất lúc bấy giờ là chợ “sân vận động”, nơi có nhiều người đến từ nhiều quốc gia thuộc Liên Xô cũ tụ về buôn bán. Anh Trần Văn Toàn, một người từng bán ở chợ này, kể lại: “Thời đó, nếu đến khuya mà không thấy bạn bán hàng ở chợ “sân vận động” về nhà là anh em trong phòng chuẩn bị lập bàn thờ. Ở đó tập trung khá nhiều tay anh chị đến từ Trung Á sẵn sàng giết người chỉ vì một bao tải hàng. Còn chuyện bị bọn đầu gấu, bảo kê bợp tai là chuyện bình thường hằng ngày...”.
THẾ ANH (Tuổi trẻ)
-------------------------------------------
Liên Xô tan rã, nhà máy bỏ hoang, nhiều ký túc xá đóng cửa, người Nga đem cho thuê với giá rẻ mạt. Một số người Việt đứng ra huy động vốn để thuê rồi ngăn phòng cho đồng hương thuê lại làm nơi ở và buôn bán. Người Việt quen gọi những địa điểm buôn bán mới ấy là “ốp” hoặc “đôm”...