
Tân Đại sứ Nguyễn Hoằng và Phu nhân Đại sứ nhận những bó hoa chào mừngNăm 1950 Việt Nam và Ba Lan thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhưng phải sau chiến thắng Điện Biên Phủ, 2 nước mới chính thức có cơ quan đại diện (1955). Hết kháng chiến chống Pháp, lại tiếp tục chống Mỹ, Việt Nam lúc đó không chỉ là nước nghèo, chưa có vị thế gì đặc biệt trong khu vực và trên thế giới, công tác ngoại giao của Viêt Nam cố gắng thực hiện tốt mục tiêu „ định sẵn”: tranh thủ sự ủng của quốc tế về chính trị và tìm nguồn viện trợ cho nhiệm vụ hàng đầu: giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước. Sống ở Ba Lan chúng tôi đã trải qua 9, 10 đời đại sứ. Người Việt ở Ba Lan lúc đó ngoài số ít cán bộ ngoại giao, phần đông là lưu học sinh học tập ở các trường đại học, thực tập ở các xí nghiệp công nghiệp. Lưu học sinh có thể coi như sứ giả VN làm ngoại giao nhân dân. Các giáo sư, cán bộ nhà trường rất quý những sinh viên Việt Nam vì họ ham học, ít chơi bời, chịu một thứ „kỷ luật sắt” (không xem phim Mỹ, không yêu người nước ngoài, sinh hoạt tổ tam- tam…), lại học khá giỏi. Việt Nam trong con mắt người Ba Lan là dân tộc dũng cảm, bất khuất chỉ khó hiểu „ tại Sao Việt Nam lại đánh đuổi Mỹ”, trong lúc Ba Lan rất cần Mỹ thì Mỹ chẳng mặn mà. Việt Nam nhận được giúp đỡ to lớn, hiệu quả của Ba Lan. Những tình cảm chân thành, nồng ấm ấy của Ba Lan giành cho Viêt Nam, đặc biệt trong công tác đào tạo cán bộ thì có nói bao nhiêu cũng không đủ. Nhiều người được đào tạo ở Ba Lan sau này đã trở thành cán bộ cao cấp của Đảng và nhà nước từ cấp bộ trưởng, thứ trưởng, đại sứ, đến những cán bộ giảng dậy ở các trường đại học, các viện nghiên cứu, các cán bộ kỹ thuật, văn hoá đầu ngành của Việt Nam. Lãnh đạo Ba Lan cũng đánh giá đó là một tiềm năng của 2 quốc gia cần được khai thác tốt. Hôm nay người Việt Nam ở Ba Lan đã là cả một cộng đồng. Có hạt giống trên mảnh đất màu mỡ, hoa thơm, trái ngọt sẽ đến ngày thu lượm. Trong số các đại sứ Việt Nam công tác tại Ba Lan không thể không kể đến ông Nông Thế Cận, bà Đào thị Tám, ông Tạ Minh Châu, và hiện tại ông Nguyễn Hoằng - những người từng được Ba Lan đào tạo. Mỗi đại sứ, mỗi nhiệm kỳ đều để lại trong lòng cộng đồng những ấn tượng khó quên.
Đó là Đại sứ Ts Nông Thế Cận – một vị thứ trưởng hiền từ, nhiều lý luận, hay trăn trở với thời cuộc và công việc (những năm nhiệm kỳ của ông lại có nhiều biến động có tính bước ngoặt về chính trị-xã hội, kinh tế :ở Ba Lan xoá bỏ chế độ cộng sản, kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, ở Viêt Nam thực hiện đổi mới). Cuộc đời ông là một câu chuyện hấp dẫn về nghị lực vượt lên „định mệnh” để trở thành nhà khoa học, nhà lãnh đạo, vị đại sứ Viêt Nam và cuối đời lại trở về cuộc sống đời thường.
Đào Thị Tám – nữ Đại sứ Viêt Nam duy nhất ở Ba Lan đến nay. Bà là điển hình của phong cách quản lý rất Việt Nam „chỉ làm những gì thuộc trách nhiệm”, có cá tính khá cứng của người phụ nữ thép kiểu „Thatcher” (Thủ tướng Anh quốc một thời). Hết nhiệm kỳ về Việt Nam chắc bà cũng trăn trở, nuối tiếc những gì đáng ra mình có thể làm tốt hơn.
Ts Tạ Minh Châu ngài Đại sứ mang tâm hồn nhà thơ. Ông biết xác định mình là ai trên cương vị Đại sứ, là nhà thơ (hội viên Hội nhà văn Viêt Nam) nên có thể ông tâm đắc: học „Lễ” để được kính, học „Nhẫn” để vạn sự thành. Ông trở thành một trong những nhà ngoại giao chuyên nghiệp cao cấp tầm cỡ quốc gia (hết nhiệm kỳ đại sứ, ông được đề bạt Phó trưởng ban đối ngoại). Ông đã khơi dậy nguồn cảm hứng thơ ca cộng đồng và thật vui khi hôm nay cộng đồng có cả một đội ngũ nhà thơ, nhà dịch thuật mạnh mẽ. Hiện ông đang là Đại sứ Việt Nam tại Lào – một đồng minh chiến lược sát sườn của Viêt Nam.
Tân Đại sứ Nguyễn Hoằng – người kế tục sự nghiệp của lớp đàn anh đi trước, trưởng thành qua tất cả các cấp bậc từ tuỳ viên văn hoá, bí thư nghiên cứu & phụ trách lãnh sự, tham tán lãnh sự, nhiều năm làm công tác quản lý Vụ Châu Âu I Bộ Ngoại Giao. Đại sứ Nguyễn Hoàng đã có 30 năm công tác liên tục trong ngành ngoại giao, đặc biệt rất gắn bó và am hiểu Ba Lan. Cộng đồng Viêt Nam tại Ba Lan có nhiều kỷ niệm với ông qua 3 nhiệm kỳ công tác tại đại sứ quán, từng giải quyết trực tiếp nhiều việc khó, có cái vượt „quá tầm” liên quan đến „an cư lạc nghiệp” của mỗi người, của từng gia đình Việt Nam trên đất bạn từ khi số lượng người Việt mới là hàng trăm nay đã lên hàng vạn. „Khi được Chủ tịch nước bổ nhiệm làm đại sứ Viêt Nam tại Ba Lan, tôi chỉ vui được vài tiếng, sau đó là sự trăn trở về trách nhiệm mà nhà nước giao phó. Làm tròn nhiệm vụ ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hoá không chỉ ở Ba Lan, mà còn cả với gần 100 cơ quan ngoại giao quốc tế ở Ba Lan”, ông tâm sự và tin tưởng sẽ hoàn thành tốt công việc khi có sự ủng hộ tích cực của đồng nghiệp, sự tham gia nhiệt tình của cộng đồng Viêt Nam tại Ba Lan và không thiếu được hỗ trợ, động viên của quý phu nhân – người phụ nữ trẻ trung xinh đẹp, cũng có ít nhiều kinh nghiệm đối ngoại qua nhiều năm công tác. Phu nhân đại sứ ngày nay có vai trò rất quan trọng và cần thiết trong ngoại giao nhân dân. Một cộng đồng 3 đến 4 vạn người còn rất nhiều vấn đề cần tháo gỡ, trước hết là công tác lãnh sự, bảo hộ công dân. Năm 2010 là năm đặc biệt với nhiều ngày lễ lớn: Thủ đô Hà Nội kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Viêt Nam là nước chủ tịch khối ASEAN, còn Ba Lan sẽ là chủ tịch EU vào nửa năm 2011, 2 nước vừa kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Lãnh đạo Ba Lan luôn đánh giá cao cộng đồng Việt nam tại Ba Lan và hứa sẽ tạo nhiều điều kiện tốt cho người Việt Nam tại Ba Lan hội nhập sâu, rộng. Đó là những cơ hội để cộng đồng phát triển, có vị thế tốt tại nước sở tại. Nhiều bó hoa tươi thắm dành cho tân Đại sứ và phu nhân trong buổi ra mắt các tổ chức cộng đồng là thể hiện tình cảm nồng ấm của bà con người Việt đối với Đại sứ quán – mảnh đất quê hương trên đất bạn, cầu nối để bà con hướng về quê hương và đại diện nhà nước Việt Nam tạo cơ sở pháp lý để hội nhập.
(Chúc mừng 60 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam- Ba Lan)