Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Một số kết quả nghiên cứu về thế hệ trẻ người Việt tại Ba Ban (Phần II)

13/09/2010 33 phút đọc Hoàng Minh
Quan hệ bạn bè Một số cha mẹ cho rằng tụi trẻ không kể hết cho cha mẹ nghe về các vấn đề của chúng nó, chúng
Một số kết quả nghiên cứu về thế hệ trẻ người Việt tại Ba Ban (Phần II)

Quan hệ bạn bè

Một số cha mẹ cho rằng tụi trẻ không kể hết cho cha mẹ nghe về các vấn đề của chúng nó, chúng nó còn dấu nhiều chuyện. Một phần cha mẹ thì lo lắng về vấn đề này, một số khác thì coi đó là tình trạng tự nhiên trong thực tế, bởi vì quan điểm của bạn bè cùng lứa là quan trọng hơn so với những gì mà cha mẹ muốn truyền tải cho con mình. Tụi trẻ, đặc biệt là những đứa đã lớn tuổi, cũng luôn nói là chúng nó thích tìm sự đồng cảm của bạn bè là hơn. Nhưng cũng có trường hợp là tụi trẻ không thể tìm nổi sự cảm thông của đám bạn bè Ba Lan cùng lứa, „vì tụi nó cho là chuyện lạ, thậm chí không bình thường”. Nếu tụi trẻ không thể tìm được sự đồng cảm ngay cả trong gia đình và cả ở đám bạn bè Việt Nam cùng lứa, thì bọn chúng phải tự đối chọi với vấn đề của riêng mình.

Đối với một số đứa, đặc biệt là đối với tụi trẻ mà mới sinh sống ở Ba Lan được vài năm, thì tụi nó cũng không dễ dàng tìm được mối quan hệ với tụi bạn Ba Lan. Điều này cho thấy khi tụi nó thường xuyên quan hệ với người Việt hơn, bởi vì: „như vậy em cảm thấy thỏai mái với họ hơn”. Nhưng mức xếp hạng „Người Việt Nam” ở đây tưởng là dễ dàng nhưng không đơn giản và không chỉ có cùng một ý nghĩa. Theo cách nhìn của bọn trẻ thì người Việt Nam ở đây có hai lọai: ”những người nói được tiếng Ba Lan, họ cũng đã có văn hóa Châu Âu rồi” và lọai thứ hai là họ vẫn còn rất nhiều tính cách Việt Nam, vì cách sinh họat vẫn khác. Nhưng mặt khác thì tụi trẻ lại rất khó xác định rõ hơn về sự khác biệt giữa hai lọai hạng này là như thế nào, để cho thấy được một sự khác biệt chủ yếu sao cho có thể miêu tả được về họ theo một phần nào đó. Như vậy thì điều này chứng tỏ là chúng nó vẫn luôn đi tìm con đường của mình trong lĩnh vực đặc thù sắc thái.

Tất cả tụi trẻ khi trả lời phỏng vấn thì có thú nhận là chúng nó chả thấy có vấn đề gì với bọn trẻ Ba Lan cùng lứa. Nói chung trong trường học thì chúng cảm thấy rất dễ chịu. Đa số là rất hài lòng trong quan hệ với bọn trẻ Ba Lan cùng lứa. Một số thì có bạn thân cả là người Việt Nam và cả Ba Lan. Một số khác thì nhận ra được sự khác biệt trong cách thức dùng thời gian rảnh rỗi của tụi bạn đồng lứa Việt Nam là khác với  Ba Lan. Thường thường thì nó liên quan với địa vị vật chất:

Nhìn rõ được khi thấy bọn chúng cư xử thế nào và khi bạn đi chơi với chúng nó. Bạn đi đâu với tụi Việt Nam? Chắc là đi ăn ở nhà hàng hay là uống càphê ở quán đắt tiền? Còn đi đâu với bọn Ba Lan? Chỉ đi đến KFC thì có gì mà uống?”

Mốt phần lớn tụi trẻ có quan hệ bạn bè không chỉ với tụi bạn Ba Lan mà chúng còn có cả bạn bè là dân tộc các nước khác. Khi bọn chúng học trường tư quốc tế, trường Mỹ v.v... thì sự quan hệ với tụi bạn Ba Lan là ít đi nhiều, thậm chí thỉnh thỏang còn lại rất ít.

Cha mẹ của tụi nó thì cho rằng tụi bạn của con mình là người nước nào thì cũng chả quan trọng lắm, chỉ cần chúng nó là người tử tế và cũng phải học hành kha khá. Trong vấn đề chọn bạn bè thì cha mẹ cho tụi trẻ có quyền tự do lựa chọn:

„Quan điểm của tôi là ai là người tốt và  tử tế hay là có quan hệ thân thiết với con tôi thì chúng nó sẽ thân nhau, chả quan trọng đứa bạn là người Việt Nam hay Ba Lan”

„Tụi nó muốn quen ai thì quen, chúng tôi không cấm. Nói chung thì chúng nó hay thân thiết với những đứa hiền lành tử tế, mà không có tính xấu xa”

„Chúng nó có nhiều bạn khác nhau, cả bạn Việt Nam cũng như Ba Lan, thậm chí quen cả người da đen. Ở đây thì không có gì phân cách trong vấn đề bạn bè”

Một số cha mẹ thì hay nhắc lại là họ thích là bọn trẻ quan hệ nhiều hơn với tụi bạn đồng lứa Việt Nam, nói chung là chúng nên bớt quan hệ với tụi bạn Ba Lan, khi đã đi học về nhà rồi. Điều này nhìn thấy rõ được đặc biệt ở trong những gia đình mà tụi trẻ lại cứ muốn biểu lộ ra là mình có tính cách Ba Lan trong vấn đề cư xử hay là khi có gì liên quan đến tính Ba Lan, trong khi đó thì cha mẹ chúng lại thích theo kiểu Việt Nam hơn.

„Có đứa bạn Ba Lan đến chơi, chỉ thỉnh thỏang thôi, tôi cũng hơi hạn chế. Tôi muốn là có nhiều tụi bạn Việt Nam đến chơi hơn, vì tôi không thích như vậy, theo tôi thì không thích hợp. Người Ba Lan là khác với chúng tôi chứ. Nếu có bạn Việt Nam thì không sao”

Cha mẹ luôn áp dụng chiến lược này là vì có lẽ họ luôn lo lắng về những vấn đề gì đó liên quan đến con cái của họ, mà không dám nói ra. Cuối cùng thì những gì mà ta đã hiểu biết kỹ rồi và những gì mà ta vẫn có tiếp xúc thường xuyên thì sẽ dễ làm cho chúng ta chấp thuận, còn cái gì mà hơi xa lạ chút xíu, mà chưa hiểu biết hết được, thì ta khó chấp nhận. Chiến lược như vậy cũng đã được ghi chép trong các bài viết văn học về vấn đề này (Grabowska, 2006). Thỉnh thỏang thì có lẽ là do cha mẹ không giỏi tiếng Ba Lan, cho nên đã trở thành một vấn đề lớn như vậy. Trong trường hợp mà khi đứa trẻ không nói sõi tiếng Việt, mà cha mẹ lại không hiểu nhiều tiếng Ba Lan, thì thường xuyên hiểu lầm nhau là điều chắc chắn. Lúc đó thì cha mẹ rất khó kiểm tra xem con mình đang làm gì, tại sao thỉnh thỏang nó lại đi học về muộn, v.v... Lúc đó thì phải tin tưởng nó thanh minh thế nào cũng được, nhưng vẫn cần phải sóat minh lại, hay là thường xuyên giám sát nó hơn nữa.

Thông thường thì tụi trẻ không hiểu nổi nguyên nhân vì sao mà cha mẹ chúng lại hạn chế không cho chúng nó quan hệ nhiều với người Ba Lan, với tụi bạn Ba Lan của chúng nó, mà họ lại cứ chỉ thích người Việt Nam hơn. Thỉnh thỏang thì chúng nó rất ngạc nhiên tại sao cha mẹ lại hỏi chúng nó là thích chơi với tụi bạn Việt Nam hay là Ba Lan.

„Không hiểu sao cha mẹ lại hỏi vớ vẩn như vậy, bởi vì chơi với ai chả được”

Sự khác biệt sắc tộc này hay được người lớn phân biệt thường xuyên hơn là tụi trẻ. Nhưng cũng có trường hợp là tụi trẻ lại nói là chúng tin tưởng tụi bạn Việt Nam hơn, chúng giải thích như vậy qua số lượng mối quan hệ với nhóm người Việt hay Ba Lan. Khi quan hệ thân thiện với một nhóm ít người mà có sự tin cẩn này, thì thường gây ra việc là chúng ta tìm mối liên kết với họi hay là những người có tính cách hơi giống họ. Những mối quan hệ liên quan ngay cả đến những gì dễ thương hay là ngay cả phần lớn là những gì khó chịu thì ít khuyến khích cho người ta là phải giữ vững quan hệ hay là tìm kiếm thêm những mối quan hệ tiếp theo.

Dựa trên cơ sở những câu trả lời của tụi trẻ thì có thể cảm nhận là tụi trẻ có nguồn gốc Việt Nam thì hay bị hạn chế nhiều hơn khi xin đi chơi dự lễ tiệc hay sinh nhật, do tụi bạn đồng lứa tổ chức tại nhà riêng hay tại các câu lạc bộ. Cha mẹ chúng thường cảm thấy cần giám sát và họ không muốn cho con mình đi vui chơi theo kiểu như vậy, họ rất hay nói là khi phải hòan thành thật tốt các trách nhiệm của mình thì mới có thời gian đi chơi, trước hết là phải làm hết các trách nhiệm học hành cho thật tốt đã. Khi cho đi chơi với tụi bạn đồng lứa thì họ cho là sẽ ảnh hưởng đến quá trình học tập và trong đầu thì không còn chỗ cho công việc học tập, đi chơi thì không phải là cơ hội phát triển quan hệ xã hội của con em mình. Trong các gia đình Ba Việt thì cho thấy là thời gian cho tụi trẻ đi chơi là có dễ dàng hơn:

„Thú thật thì con trai tôi không có  bạn bè Việt Nam, trong trường nó cũng chả có đứa bạn Việt Nam nào. Nhưng lúc nó còn bé thì nó hay chơi với tụi trẻ con nhà mấy người bạn tôi, nhưng sau đó thì họ lại chuyển đi chỗ khác ở. Ngòai ra thông thường thì tụi trẻ Việt Nam phải học quá nhiều và cũng chả còn thời gian đi chơi”

Phân biệt chủng tộc trong trường học

Nhà nước ép buộc nhà trường là phải áp dụng một số giải pháp cụ thể, qua hệ thống giáo dục, theo ý kiến một số cha mẹ thì hệ thống này làm cho tụi trẻ hoặc là phải hòa nhập làm theo, hay là vẫn cứ nhấn mạnh sự khác biệt của bản thân. Một số tụi trẻ thì coi như là không có vấn đề gì khi chúng không phải đi học lớp tôn giáo, số khác thì cho rằng không tham gia học tôn giáo là có sự khó khăn, vì như vậy là mình bị tách biệt và có thể bị phân biệt chủng tộc.

„Bọn trẻ có thể không đi học lớp tôn giáo, nhưng chúng nó sẽ bị tụi bạn bè phân biệt hay là không chấp nhận. Đây là sự khó chịu lớn nhất của tụi trẻ vì chúng nó bị ép buộc phải học một bộ môn mà chúng nó không tin tưởng lắm, như có nghĩa là có sự ức chế qúa mạnh mà bắt chúng phải học. Thỉnh thỏang thì tụi trẻ nhìn ngay ra được là tụi bạn chúng có đi học môn này cho nên chúng nó cũng muốn đi học cho vui, những đó cũng là áp lực, sự ép buộc do nhà trường tạo ra”.

Dựa trên cơ sở các bài phỏng vấn đã thực hiện thì có thể cho ra kết luận là  nếu bọn trẻ cứ cùng học một lớp đã quen thì chúng nó ít gặp phải những xuất hiện theo chiều hướng phân biệt chủng tộc. Tụi trẻ gặp khó khăn lớn nhất là rơi vào học một trường mà trước đó chả có ai là người nước ngòai. Lúc đó thì sự khác biệt của nó luôn bị nhấn mạnh theo kiểu mà nó không thể chấp nhận nổi. Đối với một số đứa thì sự „khác biệt” này lại có nét mạnh của nó, thí dụ như là nó rất đặc biệt, gây ra cho nó có khả năng là nổi bật nhanh hơn trong đám đông người. Tụi con gái thì có ý thức được là hình thức khác thường của chúng là có thể làm tăng thêm sự hấp dẫn của chúng nó.

Trong nhóm trẻ được phỏng vấn thì có những người đã bị va chạm phải sự phân biệt chủng tộc mà theo một hình thức rõ rệt nào đó thì đó cũng chỉ là số ít. Có sự kiện thuận lợi cho điều này, bởi vì tại các trường công thì nói chung thường có vài đứa trẻ gốc Việt Nam, nhưng đây không phải là thông thường. Ngòai ra thì những trường học được đánh giá tốt, đó là những trường mà có bầu không khí thân thiện, thậm chí nếu cha mẹ được phỏng vấn (hay là đứa trẻ của họ) chỉ là người Việt Nam duy nhất trong trường hay trong lớp. Những đứa trẻ đi học trong môi trường quốc tế, thí dụ như trường Mỹ hay trường Pháp hoặc là khu trường quốc tế ở phố Bednarska và Raszyńska thì tại  đó có điều kiện đặc biệt dễ dàng, vì tại đây có rất nhiều trẻ em là người ngoại quốc. Các trường học này thì là một trung tâm quốc tế đa dân tộc, do vậy tụi trẻ của chúng ta cảm thấy mình cũng chỉ là một trong số rất nhiều người như vậy. Ở đó thì đặc biệt là nói chuyện với nhau chủ yếu bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, cho nên tụi trẻ sinh họat trong một xã hội hòan toàn xa cách với người dân Ba Lan bình thường.

Trong một vài trường hợp thì những người được phỏng vấn nói về vấn đề là giáo viên có đối xử hơi khác, có kêu ca là giáo viên bênh vực người Ba Lan nhiều hơn. Trong việc có xuất hiện sự phân biệt chủng tộc hay không thì họ cũng chỉ nói chung chung, cho nên người ghi chép phỏng vấn cũng chả muốn hỏi thêm sâu rộng về vấn đề này. Do vậy có thể cho ra kết luận là nếu như thày cô giáo có đối xử tồi tệ với tụi trẻ của chúng ta thì điều này cũng không là thảm họa cho lắm (nếu như cứ giả thiết là có hiện tượng như vậy), hoặc là điều này cũng liên quan đến tất cả đám bạn bè cùng lớp, cho nên cũng chả có gì đáng nói.

Nếu tụi trẻ ít tuổi nhất mà bị gặp phải hình thức phân biệt chủng tộc nào đó thì chúng nó về nhà kể ngay cho cha mẹ biết. Cha mẹ chúng nói chung là có nhiều phương pháp khác nhau để xử lý giải quyết vấn đề phân biệt chủng tộc này, trước hết là họ giải thích cho đứa trẻ biết là nó nên không bận tâm gì về sự gây sự đó, hay là họ cho đứa trẻ đi học thêm trường học võ thuật, cuối cùng thì có thể là họ chuyển con mình sang trường khác. Trong đa số các trường hợp phải chuyển trường thì chỉ khi mà hiệu trưởng không chịu cam thiệp và không muốn làm những công việc cần thiết để hạn chế cách cư xử không tốt của tụi trẻ đồng lứa. Những đứa trẻ lớn hơn chút xíu thì nói chung là có cách tự giải quyết trong những trường hợp phân biệt chủng tộc theo cách của mình, nhiều khi tốt và có lúc cũng không hay ho cho lắm:

„Thường khi lo sợ thì người ta dùng vũ lực. Thí dụ như trong các trường học thì bọn trẻ con Việt Nam là có nhiều tài năng. Chúng hay được nhiều giải thưởng. Và đây cũng có chút xíu ghen tuông. Người ta cảm thấy là đưa khác chen vào lãnh thổ của chúng nó.  Tôi cho là tụi trẻ học hỏi được điều đó ngay từ trong gia đình mình, bởi vì tụi nó thì chưa thể tự nghĩ ra được sáng kiến như vậy (là cần phân biệt chủng tộc)”

„Em chuyển trường tiểu học. Trường này cũng trung bình thôi, nhưng nói chung ở đó có rất nhiều sự phân biệt chủng tộc và luôn bị chêu trọc theo kiểu ám chỉ „bọn Tàu” hay là nhiều kiểu trêu chọc khác nhau. Cuối cùng thì em bị đánh đau và lúc đó thì em chuyển sang trường khác”

„Có gì khó chịu do bọn bạn cùng lứa gây ra? Lúc em còn bé hơn,  thời gian đầu ở trường tiểu học thì em hay bọn lớp trên trêu chọc gì đó, nhưng cũng may là sau đó thì thay đổi rất nhanh. Cho nên có lẽ là em không bị khó chịu gì nữa”

„Thỉnh thỏang thì có đứa nói với em là da vàng da viếc, thật kinh khủng”.

Cha mẹ cũng đưa ra sự biểu hiện phân biệt chủng tộc với tụi trẻ của họ, họ coi nguyên nhân chủ yếu là do nguồn gốc xuất xứ, hình dáng khác hay là có nhiều vấn đề với tiếng Ba Lan. Họ cảm thấy bất lực, tự coi là „chắc là phải chấp nhận như vậy”:

„Nếu nó là người Ba Lan thì chắc là sẽ dễ dàng cho nó hơn, vì Ba Lan là một quốc gia chưa được thóang rộng cho lắm, có những tình huống khó chịu là con trai tôi hay gặp phải những lời văng tục do bọn trẻ con Ba Lan chửi bới, nhưng tôi thì làm sao có khả năng thay đổi được xã hội, sự việc là như vậy và cũng phải chấp nhận thôi”.

„Khi nó còn đi học lớp 1, nó khóc suốt và không chịu đi học, vì bọn bạn nó nói với nó là „Thằng mọi da vàng””

„Nếu nói về vấn đề trêu chọc nhau ngòai sân chơi thì em nghĩ là lúc nào mà chả có. Nhưng đó lại là vấn đế khác. Bởi vì tụi đểu cáng này không chỉ cư xử tồi tệ đối với người Việt Nam, mà chúng nó vẫn cư xử như vậy đối với cả người Ba Lan thì sao? Em thì nhìn nhận được như vậy và em cũng cảm thấy thỏai mái trong xã hội này”

Mối liên kết với quê hương

Có một cách phổ biến nhất để cho con em mình giữ được mối liên kết với quê hương và nền văn hóa của nước mình là có lẽ cứ giữ mối quan hệ tốt với gia đình họ hàng ở Việt Nam, qua internet, hay cũng như là phải thường xuyên về quê thăm Việt Nam, thí dụ như là hàng năm hay là cứ 2 năm một lần. Người lớn (cha mẹ) thì cho rằng nguyện vọng muốn giữ quan hệ tốt với họ hàng là một trong những động cơ chủ yếu để về thăm Việt Nam, họ cũng muốn bảo đảm cho con cái của mình có khả năng tìm hiểu đất nước và con người Việt Nam.

Đối với bọn trẻ thì những chuyến về quê này thường là có tính chất đi nghỉ hè. Theo chúng nó thì những đợt vếề quê này trước hết là để giữ mối quan hệ với họ hàng, ngòai ra thì cũng để tìm hiểu khám phá đất nước, xem ở đó có những gì hay ho và hấp dẫn. Thông thường thì đó cũng là cơ hội để cảm nhận được là mình hơi hơi khác, khám phá ra được sự khác biệt giữa cuộc sống ở Ba Lan và Việt Nam và như vậy cũng ra được quyết định là sẽ sinh sống ở đâu thì tiện lợi cho mình hơn. Nói chung thì tụi trẻ đã quá quen thuộc với cuộc sống ở Ba Lan và chúng nó cũng chả muốn trở về Việt Nam để sinh sống cố định nữa. Vì ở đây chúng được nuôi dưỡng từ nhỏ, có nhiều bạn bè của mình và có cả thế giới riêng của chúng, mà thế giới này lại quá quen thuộc với chúng nó. Đa số các trường hợp thì coi như về Việt Nam chỉ là đi du lịch:

„Em đã quá quen với Ba Lan. Nếu em phải sống ở Việt Nam  thì chắc em không sống nổi thậm chí một tuần”

Những đứa mà mới sang Ba Lan sinh sống, mà chưa có điều kiện về Việt Nam từ lúc sang Ba Lan, thì chỉ muốn về Việt Nam để gặp lại họ hàng và đám bạn cũ, hoặc là để xem đất nước có được thay đổi gì. Thỉnh thỏang có những đứa vì nhiều nguyên nhân vô vàn khác nhau, mà chưa có khả năng thường xuyên về quê tổ cha mẹ, thì lại muốn về thăm. Chúng muốn tìm hiểu Việt Nam và những gì có liên quan đến đất nước này, nhưng chúng nó cũng xác định là không phải là vì chúng nó là người Việt Nam mà chúng nó quan tâm như vậy. Thực ra là chúng nó muốn tìm hiểu nguồn gốc của riêng mình.

Khả năng ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một thành phần quan trọng trong nền văn hóa, theo quan điểm cơ cấu sắc tộc. Một vấn đề lớn nhất mà những người mới sang đây sinh sống hay đề cập đến, đó là ngôn ngữ. Để học ngôn ngữ thỉ đa số trong các trường hợp là do gia đình tự trợ giúp nhau. Nhưng nếu trong gia đình chả có ai biết đủ tiếng thì họ phải thuê gia sư đến dạy.

Những đứa trẻ sinh ra ở Ba Lan thì không có vấn đề gì về ngôn ngữ. Nhưng tụi này thì nói chung chỉ hiểu biết tiếng Việt ở mức để tạm giao tiếp. Tụi nó học được ngôn ngữ này khi phải nói chuyện với cha mẹ bằng tiếng Việt. Ở nhà thì tụi trẻ sử dụng tiếng Việt hay là nói cả hai thứ tiếng: Việt Nam và Ba Lan. Nhưng tụi trẻ nói chuyện với nhau thì thích sử dụng tiếng Ba Lan hơn, và bọn chúng vẫn làm như vậy, trừ trường hợp là cha mẹ quản lý chặt thì bắt bọn chúng chỉ được nói tiếng Việt. Một số tụi trẻ thì nói chung không hiểu tiếng Việt và chúng nó nói chuyện với cha mẹ bằng tiếng Ba Lan. Nhóm trẻ này cho là tiếng Việt quá khó. Thỉnh thỏang thì chúng có học tiếng Việt 1 hoặc 2 năm. Thông thường thì tụi trẻ có đi học trường tiếng Việt khỏang 2-5 năm. Một số trường hợp đặc biệt thì nhờ cha mẹ dạy cho biết đọc và biết viết ngay tại nhà mình. Tụi trẻ được sinh ra ở Ba Lan thì nói là:

„Khi em sinh ra thì chủ yếu là em ở nhà, đa số khỏang thời gian ở nhà là chúng em nói tiếng Việt, cho nên như vậy em biết được tiếng Việt”

„Vâng, ở nhà thì từ bé em đã nói chuyện với cha mẹ bằng tiếng Việt. Cả nhà  nói tiếng Việt, gọi điện hay gửi tin nhắn SMS cũng bằng tiếng Việt”

„Chúng em không biết tiếng Việt, cha em không dạy tụi em được ngôn ngữ này. Em rất muốn nói được tiếng Việt, để hiểu được tất cả những gì người khác nói: họ hàng, bạn bè. Nhưng vì cha em không có thời gian dạy, nên bây giờ muốn học thì cũng khó, vì tiếng Việt cũng rất phức tạp”.

„Trước đây thì em có học chút xíu, nhưng em cũng chỉ học được câu chào hỏi và đếm được đến 10”

Như vậy thì học tiếng Việt không phải lúc nào cũng là công việc trọng đại. Thường thì tụi trẻ bỏ dở không học tiếp tiếng Việt, nếu như khi phải đi học tiếng Việt lại bị trùng với các trách nhiệm học hành ở trường chính của tụi trẻ. Ở những gia đình mà vấn đề này được coi là quan trọng, thì cha mẹ luôn cố gắng để đứa trẻ cứ đi học thêm và phải học bằng được tiếng Việt.

CÁC KẾT LUẬN RÚT RA ĐƯỢC TỪ CÔNG VIỆC NGHIÊN CỨU

Trong công việc nghiên cứu này thì có đề cập đến vấn đề sắc tộc đặc thù văn hóa. Chúng tôi đã nghiên cứu vấn đề này để tìm mức độ xem người di cư có tự nhận mình theo một nhóm sắc tộc của mình như thế nào và sự hòa nhập với xã hội đón nhận họ, mà ở đây thì đó là xã hội Ba Lan. Chúng tôi đã xem xét theo rất nhiều khía cạnh: theo mức độ tự nhìn nhận, tức là trực tiếp tự xác định xem „mình là ai”, theo mức độ thân thiện và cường độ mối quan hệ với người Ba Lan hay là với người Việt Nam, ngòai ra thì cũng theo góc độ về trình độ hiểu biết ngôn ngữ. Tụi trẻ của chúng ta thường nhìn nhận coi mình vừa là người Ba Lan và vừa là người Việt Nam, đó là hình ảnh rất đặc thù. Đây cũng là câu trả lời (sự xác định) đa số của tụi trẻ có gốc gác là Việt Nam.

Thông thường thì tụi trẻ thì tự giải quyết được các vấn đề mà mình vấp phải hoặc là nhờ bạn bè (cha mẹ ???) giúp đỡ. Nhưng cũng có trường hợp là chúng nó muốn nhờ người lớn khác giúp đỡ, cần người ngòai cuộc hòan tòan, người mà sẵn sàng nghe chúng kể về vấn đề của mình và phải nhìn nhận ra được vấn đề đó.

Như đã nói ở phần trên, dựa trên cơ sở các cuộc phỏng vấn, chúng ta có thể đưa ra được kết luận là thế hệ cha mẹ rất mong mỏi là con cái mình phải giữ được các giá trị văn hóa, nhưng họ lại không chịu dạy bảo bọn chúng. Như tác giả của cuốn sách „The Vietnamese Americans” - Đỗ Dư Hiếu – đã đánh giá đúng đắn được là tụi trẻ không thể học được các công thức văn hóa chỉ vì là chúng nó sinh ra trong gia đình Việt Nam. Để làm được như vậy thì cả cha và mẹ đều phải tích cực tham gia, còn việc là chỉ đăng ký con mình đi học trường tiếng Việt là không thể đủ, để sao cho đứa trẻ có thể học hỏi được tất cả những gì mà có tính chất Việt Nam. Nhưng ta cũng biết được là thời gian mà họ dành cho đứa trẻ là còn nhiều hạn chế bởi vì phụ thuộc vào việc là có quá nhiều trách nhiệm khác hay là do bận bịu công việc. Do vậy điều quan trọng nhất có lẽ làm sao để cho cha mẹ cố gắng thông hiểu là cuộc sống giữa hai nền văn hóa, hay là nói theo cách khác là phải sống theo cả hai nền văn hóa, thì đối với đứa trẻ đó là mộ thử thách rất to lớn. Khi sinh sống ở Ba Lan thì ngay cả tụi trẻ cũng như cha mẹ chúng luôn phải so sánh giữa hai lối sống Ba Lan và Việt Nam. Kết quả của sự so sánh này là có sự mong chờ của hai thế hệ. Bậc cha mẹ thì mong muốn sao cho con mình vẫn thuần túy Việt Nam, tụi trẻ thì lại mong muốn sao cho cha mẹ có nhiều cảm thông hơn. Những con đường lựa chọn mà tụi trẻ quyết định, thì lại phụ thuộc phần lớn vào thành quả về sự cố gắng hòa nhập thực tế vào cuộc sống ở Ba Lan, phải sống trong một xã hội có hai nền văn hóa, thậm chí trong một số trường hợp là phải sống trong xã hội đa văn hóa. Nếu chúng nó chỉ sống theo kiểu Ba Lan nhiều hơn so với tính cách Việt Nam thì không nhất thiết đó là sự đe dọa. Nếu tụi trẻ hòa nhập thích hợp được vào trong xã hội Ba Lan thì chính thế hệ „chuối chín” đang lan rộng này sẽ có rất nhiều cơ hội trong thị trường công ăn việc làm, không nhất thiết chỉ trong thương mại, thậm chí chúng có thể làm được rất nhiều trong các lĩnh vực khác. Thực ra thì khi chúng nó hòa nhập được sâu rộng trong xã hội Ba Lan thì đó chính là cơ hội cho thế hệ mới để tìm được chỗ đứng vững chắc cho mình ở Ba Lan, tất nhiên là với giả thuyết là chiến lược như vậy phải được bậc cha mẹ chấp thuận.

Cuối cùng thì tôi xin dẫn ra một câu phát biểu của một trong những đứa trẻ được phỏng vấn, coi như đây là một thông điệp để gửi đến cho bậc cha mẹ và xin họ bày tỏ ra nhiều sự cảm thông hơn:

Thựa ra thì em nghĩ là khi cha mẹ em sang Ba Lan và đã đăng ký cho em đi học ở trường Ba Lan thì họ cũng đã ý thức được là cho đến một lúc nào đó thì em sẽ không còn là người Việt Nam 100% nữa”.

(Ewa Grabowska soạn thảo, Ngô Hoàng Minh dịch)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu