1. Hội nhập
Di tản chỉ làn sóng người thay đổi chỗ ở (định cư hay tạm cư) từ vùng lãnh thổ này sang vùng lãnh thổ khác từ nước này sang nước khác (đổi địa chỉ cư trú). Hiện tượng này có từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người.
Integracja ( Integration) – Hội nhập một thuật ngữ dùng trong kinh tế, xã hội chỉ quá trình liên kết cái riêng, từng thành phần vào cái tổng thể. Khi có di tản thì tất yếu phải có hội nhập. LHQ có cả Uỷ ban về vấn đề người tỵ nạn. Uỷ ban về vấn đề di trú và tỵ nạn là một trong 10 Uỷ ban của EU.
Hoạt động của các cơ quan này đã giúp cho hàng triệu người nhập cư hợp pháp ở nhiều nước trên thế giới. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, hay ở một vùng lãnh thổ vấn đề di tản và hội nhập được đặt ra khác nhau cho mỗi quốc gia.
Ba Lan có cơ quan những vấn đề hồi hương và người nước ngoài (Urząd do Spraw Repatriacji i Cudzoziemców). Viêt Nam chưa có cơ quan nhà nước chuyên trách về vấn đề di tản và hội nhập, hiện chỉ có Uỷ Ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.
Hội nhập của người di tản (migrantów) là vấn đề nóng bỏng của các nước EU – là quá trình đưa cộng đồng di tản hoà nhập vào „nhịp sống chung của xã hội tiếp nhập”. Quá trình hội nhập, hội nhập lại, sau hội nhập không có một định nghĩa, hay mục tiêu và nó cũng luôn thay đổi. Trong giới khoa học có nhiều khái niệm rộng hơn liên quan đến quá trình này: tiếp nhận, thích nghi, cách biệt, tách rời, ngoài vòng. (asymilacja, akulturacja, izolacja, separacja, marginalizacja).
Trong điều kiện sống ở nước ngoài, các hệ tư tưởng, các nền văn hoá vừa hoà nhập, có xung đột, thậm chí đối nghịch nhau. Chủ động chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, trước hết văn hoá sở tại để làm phong phú, làm giàu thêm, hiện đại hơn văn hóa dân tộc và tìm cách chung sống trong điều kiện hội nhập thể hiện tính tích cực.
Giữa hội nhập kinh tế và hội nhập văn hóa cũng không thể coi nhẹ mặt nào. Coi trọng hội nhập kinh tế mà coi nhẹ hội nhập văn hóa nguy hiểm bởi có thể bị các nền văn hóa khác thế chân. Văn hóa dân tộc là rường cột tinh thần của một dân tộc, cộng đồng, là đảm bảo dân tộc tồn tại có bản sắc riêng.
Vì vậy dân tộc nào cũng cần giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, trong đó giữ gìn ngôn ngữ dân tộc là gốc. Trên thế giới đã có nhiều bài học về sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa dù dân tộc đó sống ở trong nước hay ở nước khác. Bài học nào cũng chỉ có những giá trị nhất định chứ không thể là chìa khóa vạn năng.
2. Hội nhập của cộng đồng Việt nam tại Ba Lan
Quá trình hình thành cộng đồng và quá trình hội nhập.
Người Việt nam đầu tiên có mặt ở Ba Lan là khoảng năm 1950, do đảng cộng sản Pháp cử đi học. Tiếp theo là giai đoạn sau hoà bình lập lại 1954, 1955 mỗi năm có khoảng trên 10 - 15 người được cử sang Ba Lan học đại học. Từ năm 1963, 1964 mỗi năm có khoảng 20 LHS sang Ba Lan học đại học. Khi chiến tranh phá hoại của Mỹ lan ra miền Bắc, nhà nước cử hàng nghìn LHS sang học ở các nước XHCN. Từ 1965- 1975 mỗi năm có khoảng 200 LHS (học đại học, TTS, NCS) sang Ba Lan học tập. Sau 1975 số lượng giảm đi còn khoảng 50 LHS các loại. Từ 1989 -1995 trung bình hàng năm có khoảng 30 LHS, TTS, NCS sang học tập tại Ba Lan. Từ 1995 đến nay Ba Lan nhận đào tạo cho VN khoảng 10 - 20 người (miễn học phí).
Số công nhân được cử sang Ba Lan học nghề (đóng tầu, khai thác mỏ, điện tử) gần 2 nghìn. Như vậy trên 5000 người Việt Nam đã được đào tạo, học nghề tại Ba Lan. Số lượng trên đã và đang là „chất” kết dính quan trọng trong quan hệ VN-BL, của quá trình hội nhập của người Việt Nam tại Ba Lan.
Từ 1990 - 2000 làn sóng người Việt nam sang Ba Lan làm ăn tăng nhanh đáng kể (diện thăm thân, hợp đồng lao động, từ Liên Xô cũ, Đức, Bungari, Tiệp). Dịch vụ đưa người qua Nga, Tiệp, Ukraina làm tăng số người Việt Nam bất hợp pháp ở Ba Lan. Cộng đồng Việt nam hiện nay ở Ba Lan dự báo khoảng 30-40 ngàn người (10 nghìn gia đình), chủ yếu tập trung ở Warszawa. Lý do số người VN tăng lên đáng kể còn là do quá trình toàn cầu hoá, trong đó „Đổi Mới” của VN cũng mở cửa cho người Việt Nam ra nước ngoài dễ dàng hơn.
Người Việt Nam học tập, thực tập chủ yếu ở các thành phố lớn: Warszawa, Kraków, Gdańsk, Wrocław, Katowice, Łódź, Szczecin, Poznań, Olsztyn, Toruń… Còn người VN hiện nay lại tập trung chủ yếu ở Warszawa. Những báo cáo nghiên cứu về người tỵ nạn VN, do Ba Lan đưa ra số liệu khá khác nhau.
Bà Ts Teresa Halik Đại học Tổng hợp Warszawa: 20–30 nghìn người. Cục Hồi hương và Người nước ngoài Ba Lan: 40 nghìn (năm 2001), cha đạo Edward Osiecki: 60 nghìn. Số người Việt nam có quốc tịch Ba Lan gần 4000 người (~13%), có định cư dài hạn khoảng 10 nghìn người (~30%). Số người có viza lao động ~10%.
Các nguồn tin không chính thức dự đoán, trong số 30 ngàn người Việt sống trên toàn Ba Lan, số người không có giấy tờ cư trú hợp pháp gần ~40% (WWW. europa.delpol.pl). Ba Lan là ví dụ một nước châu Âu, mà số di tản từ VN có số lượng đông và tổ chức tốt hơn so với nhiều dân di tản khác.
Trong danh sách các dân tộc thiểu số ở Ba Lan, số người VN ở Ba Lan chỉ sau Ukraina, Đức, Bạch Nga, Nga, Armenia (xem tài liệu tham khảo)
Lãnh sự Ba Lan hàng năm cấp khoảng 100 viza cho người VN, nhưng số người vượt biên tới 900 người.
Từ 1998-2006 đã thu nhận 2999 giấy mời, chiếm 1% tổng số giấy mời người nước ngoài.
Abolicja (viza nhân đạo): trong số 3512 đơn xin viza nhân đạo, số đơn của người Viêt Nam là 1256, số người nhận được viza là 1001 người, từ chối 164 người, 14 người không được xem xét. Đợt 2007 số người được cấp viza nhân đạo là 694 người (gần 50%).
Định cư 5 năm theo tiêu chuẩn châu Âu (cũng có thể xin định cư tạm thời ở các nước EU) – người VN chiếm tỷ lệ cao, sau Ukraina, Nga và Ấn độ. Bắt đầu năm 2005 là 52 người, năm 2006 là 118 người, 2010 tới gần 1000 người.
Quốc tịch Ba Lan. Từ 1.07.2001 – 01.03.2007 có 189 đơn của người Viêt Nam xin quốc tịch Ba Lan, chủ yếu ở tỉnh Mazowsze chiếm 1%. Từ 1999 cấp quốc tịch cho những người lấy vợ, chồng Ba Lan, trong thời hạn 3 tháng sau khi kết hôn, có thời gian sống ít nhất 3 năm. Nhờ vậy từ 2000 - 2006 12 người nhận quốc tịch Ba Lan. Số người muốn xin quốc tịch Ba Lan tăng, nhất là lớp trẻ.
Từ 1992- 2006 có 501 đơn xin viza tỵ nạn của người VN, chiếm 1,5%. Từ 1992- 2006 chỉ có 1 người được nhập cư theo dạng tỵ nạn, 2 người được định cư „chiếu cố”.
Số người VN trong danh sách bị trục xuất 2001-2006 là 3254 người (550 ng./năm). Những người có vợ, chồng là người Ba Lan, hoặc có định cư dài hạn không bị trục xuất. Hiệp định trả người sống bất hợp pháp về VN có hiệu lực giữa Việt Nam với Ba lan, Đức, Tiệp, Anh, 3 nước đang chờ: Bỉ, Pháp, Czech. Nếu không có chính sách, cách làm thích hợp những người bị trả về có nguy cơ tái xuất, họ sẽ tìm cách đi vào một quốc gia khác.
Có sự phân loại trong số người Việt Nam ở Ba lan. Số gia đình làm ăn thành đạt, người có tài sản hàng triệu đô trở lên ~15%, có cuộc sống dư dật ~20%, có cuộc sống đủ chi tiêu ~25%, còn khó khăn ở các mức khác nhau ~35%. Số người VN có trình độ đại học trở lên chiếm khoảng 20-30%. Trên 50% tốt nghiệp PTTH (dữ liệu chưa được kiểm chứng).
Tổ chức người Viêt Nam lâu đời nhất ở BL là Hội Văn hoá Xã hội người VN (Towarzystwo Kulturalno- Społeczne Wietnamczyków), thành lập năm 1986 . Có khoảng 200 -300 thành viên (không tính thành viên gia đình họ).
Tổ chức xã hội đông đảo nhất của người Việt nam là Hội Người Việt Nam Đoàn kết và Hữu nghị (Towarzystwo Wietnaczyków w Polsce „Solidarność i Przyjazń), được thành lập năm 1989. Hội còn có chi nhánh ở các tỉnh: Kraków, Szczecin, Łódź.
Một tổ chức hoạt động tích cực, hiệu quả là Hội Phụ nữ VN tại Ba Lan (được toà công nhận 2010). Hội Người VN yêu đạo Phật, Hội Thiên Chúa giáo đáp ứng một phần nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt nam tại Ba lan. Liên đoàn bóng đá, CLB tenis là những tổ chức hoạt động đều đặn sôi nổi, lôi kéo được sự tham gia của nhiều đối tượng cộng đồng.
Hiện nay ở Ba lan có 9 tổ chức mang tính xã hội (Hội ĐK&HN, Hội VH-XH, Hội Doanh Nghiệp, Hội người Cao Tuổi, Hội người Yêu Đạo Phật, Tổ chức Thiên Chúa Giáo, CLB L.Q.Đôn, CLB Cựu Chiến Binh, Truing tâm Văn Hoá Văn Lang), nhiều tổ chức chuyên ngành như Trường Tiếng Việt, Liên đoàn Bóng đá, Câu lạc bộ Tenis, Cờ tướng, CLB thơ, Khiêu vũ, Ca múa - Âm nhạc, Dưỡng sinh, Trung tâm Y tế Lotus, nhiều hội đồng hương hoạt động khá thường xuyên.
Tổ chức đối lập như Hội vì Dân chủ (Stowarzyszenie na rzecz demokracji) không có tiếng nói trong cộng đồng. Cộng đồng Việt Nam tại Ba Lan được đánh giá là cộng đồng đoàn kết, tổ chức được nhiều hoạt động chung hữu ích (phục vụ cộng đồng, hướng về quê hương, gắn với nước sở tại), có các hoạt động thể thao, văn nghệ sôi nổi.
Người Việt Nam tại Ba lan đã có các xuất bản: Báo Phương Đông, Tương Lai, Quê Việt, Đàn Chim Việt, Nối Vòng Tay Lớn, Hướng Phật, nhưng chỉ có „Quê Việt” tờ báo của Hội ĐK&HN” tồn tại, hoạt động đều và hiện đang được tài trợ của Quỹ Hội nhập của EU và Ba Lan.
Cộng đồng Việt Nam đã và đang hội nhập vào Ba Lan.
Giống như con gái mới về nhà chồng từ làm quen, ăn theo - thích nghi, tự lập đến thành chủ nhân thực sự. Giai đoạn đầu của quá trình hội nhập không chỉ là năng lực chủ quan của đối tượng muốn hoà nhập mà các yếu tố khách quan tác động, hỗ trợ là vô cùng cần thiết và quan trọng.
Người VN bắt đầu hội nhập bằng kinh tế (kinh doanh hàng vải, quán ăn). Thuở sơ sai có tính tự phát và theo con đường tiểu ngạch. Khởi đầu từ năm1986 những cựu LHS VN thuê các gian hàng ở các cửa hàng Mậu dịch quốc doanh (Dom Towarowy) để bán hàng. Các cô thợ may Việt Nam ở Łódź buôn bán trên đường phố, đi đến các chợ trời mở đầu giai đoạn kinh doanh tự do của người VN tại Ba Lan.
Do có hiệu quả, người Việt mở hãng đánh hàng qua Bưu điện, hàng không, tầu biển. Lúc đầu chỉ đánh hàng VN, sau đánh hàng Thái Lan, hàng Thổ, hàng Tầu….Người VN lúc đầu bán lẻ ở các chợ tại các thành phố lớn Ba Lan, vùng biên giới, sau tập trung về Warszawa tại chợ Sân Vận Động 10 năm „Jarmark Europa” dần hình thành các khu bán hàng của người Viêt Nam.
Chợ sân Vận động 10 năm tồn tại 20 năm (1990-2010) – nơi làm ăn thành đạt của nhiều người Việt, tạo cơ sở hình thành cộng đồng ở Warszawa. Lúc sầm uất nhất chợ Sân Vận Động 10 năm có tới 7000 đơn vị kinh doanh, riêng người VN có khoảng trên 1200 quầy bán hàng.
Tại một số thành phố lớn của Ba Lan như Kraków, Gdańsk, Szczecin, Wrocław, Katowice cũng có đội quân bán lẻ của người Viêt Nam (từ 1990- 2000). Từ năm 2000, khi dự báo chợ Sân Vận Động sẽ giải thể, hình thành nhiều khu Trung tâm buôn bán mới như: Wolka Kosowska (1995-2000), „Maximus” (2005) ở Nadarzyn, chợ „Ptak”- Łódź mở rộng (sau 2000), năm 2010 có thêm chợ Bakalarska, chợ Marywińska.
Chợ nào kéo được nhiều người Việt Nam vào buôn bán, kinh doanh thường sôi động. Người VN buôn bán hàng rẻ tiền, siêng năng lao động, giảm tối đa chi phí đã đem lại hiệu quả trong kinh doanh. Kinh doanh của người VN tại Ba Lan góp phần phát triển „kinh tế chợ”, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người ở cả Việt Nam và Ba Lan.
Cán thân thương mại giữa Ba Lan và Việt nam nghiêng về Việt Nam (xuất siêu). Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của người Việt Nam từ Việt Nam, Trung Quốc, Thổ đã vượt con số hàng tỷ đô. Tiền thuế nộp cho nhà nước hàng trăm triệu đô.
Số tiền người Việt nam dành cho tiêu dùng, trong đó có thuế VAT, bảo hiểm, thuê lao động là rất lớn. Trung bình hàng năm có khoảng 1000 giấy phép lao động cấp cho người VN, chiếm 10% giấy phép cho người nước ngoài. Hầu kết những người có định cư đều có nhà ở riêng, vậy số tiền mà người Việt Nam đầu tư vào bất động sản ở Ba Lan cũng lên đến con số hàng trăm triệu độ, nhưng không nhất thiết họ sẽ ở Ba Lan vĩnh viễn. Đây là yếu tố tích cực của quá trình hội nhập.
Người Việt bắt đầu hội nhập sâu vào xã hội sở tại. Trẻ em Việt Nam học trong các trường phổ thông, các trường đại học, trường nghề. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy đa số thanh niên gốc Việt sống ở Ba Lan cảm thấy không có gì để nói rằng có „phân biệt chủng tộc”, dĩ nhiên chỗ này chỗ khác, có thể gặp kỳ thị dân tộc (~3%). Có tới 70% người Ba Lan được hỏi, họ nói trẻ em người Việt có quan hệ và giao tiếp tốt với trẻ em Ba Lan. Ví dụ một sinh viên gốc Việt (23 tuổi) nói với nhà báo: „được các bạn bè Ba Lan quý mến và chưa bao giờ bị kỳ thị,…sang Ba Lan theo bố mẹ từ khi mới 3 tuổi, đã học trong các trường phổ thông và bây giờ đang học đại học. Ba Lan sẽ là nơi sống và làm việc suốt cuộc đời”.
Qua tự thăm dò 119 phiếu, 76,5% người BL không thấy có trở ngại về việc người VN sống và làm việc tại BL (xem Maria Nguyên).
Người Việt sau một thời gian sống, lao động ở Ba Lan đã hình thành các tổ chức của mình. Các hoạt động đối nội nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần. Nhiều hoạt động đối ngoại, giao lưu là khẳng định chỗ đứng, vai trò và khả năng của người Việt tại xứ sở hội nhập.
Những hạn chế trong quá trình hội nhập
Con người và tính cách Việt có mặt mạnh, mặt yếu khi tham gia hội nhập. Người VN ở BL không phải đồng nhất, lớp đi trước, được đào tạo ở BL, lớp đến sau, có người từng lao động ở các nước Đông Âu, có người từ VN sang xuất thân từ thành phố, từ nông thôn, từ buôn bán, từ làm nông nghiệp, theo thiên chúa giáo, phật giáo…
Người VN kém về ngoại ngữ vì hoạt động trong môi trường chủ yếu dùng tiếng việt, mà tiếng BL lại quá khó (kể cả cho những người có trình độ đại học). Về tâm lý người VN không muốn bị hiểu là “bỏ tổ quốc” khi có định cư hay quốc tịch. Di tản VN trải qua các giai đoạn: kiếm sống, cải thiện cuộc sống đến di tản kiểu „đầu tư”.
Người VN ở Ba Lan phần đông có nguồn gốc từ các tỉnh phía Bắc; truyền thống học hành được đề cao, được đầu tư đặc biệt. Cộng đồng VN mạnh về hướng nội, nhẹ về hướng ngoại.
Tính cách đặc trưng của người Việt nam còn thể hiện: yêu quê hương, đất nước, cần cù, tiếp thu nhanh, bắt chước giỏi, lạc quan, thương người, trọng nghĩa lớn, nhưng nghèo trí tưởng tượng, chịu nhẫn nhục, an phận, dễ bằng lòng với những thay đổi nhỏ, khong quen sống có nguyên tắc nguyên tắc, hời hợt, thiển cận. Người Việt Nam sống với "văn hóa tiểu nông" - thứ văn hóa sản sinh bởi một xã hội sản xuất nông nghiệp, manh mún, mang tính tự cung tự cấp, ít tính liên kết và sản xuất chuyên sâu với trình độ phân công lao động thấp.
Văn hóa tiểu nông làm con người giữ thế thủ, chăm lo quá nhiều cho lợi ích bản thân và trước mắt, ít dám nghĩ chuyện lâu dài và cũng ít có khả năng nghĩ chuyện lâu dài … (Người Việt có thông minh không? Bài viết của Minh Dũng cho Tuần Việt Nam).
Người Việt Nam do vị thế là „khách không mời” nên thường thụ động, dè dặt trong giao tiếp với người bản xứ, hạn chế tối đa tiếp cận với người Ba Lan, mà lý do rào cản ngôn ngữ, tập quán là cản trở chính.
Trong số trên dưới 30 nghìn người Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại Ba Lan, cũng có người Việt thành danh: anh Tào Ngọc Tú (trong kinh doanh), giáo sư Nguyễn Ngọc Thành, TS Kh Nguyễn Hữu Viêm, Trần Chi, ….. Sơn, Nguyên Anh Linh… (trong khoa học và giáo dục ), có người là chuyên gia giỏi trong tài chính, chứng khoán. Nhiều dịch giả Việt nam như Lâm Quang Mỹ, Nguyễn Văn Thái, Nguyễn Chí Thuật, Nguyễn Thái Linh đã thành công trong dịch thuật nhiều tác phẩm Ba Lan sang tiếng Việt và ngược lại……nhìn chung tỷ lệ này là rất thấp.
Gần 50% người Việt ở Ba Lan chưa có cuộc sống ổn định chỉ ra rằng nhiều vấn đề tệ nạn, tiêu cực làm nhức nhối cộng đồng, chính quyền sở tại. Tỷ lên người VN bị bắt giữ từ 4-7,5% do vi phạm về thuế, hoạt động kinh doanh trốn thuế như làm giả giấy tờ, mở hãng giởm, đút lót cơ quan thuế vụ. Việc bùng hàng, trốn nợ, cướp dật vẫn xẩy ra. Gần đây nhất hoạt động buôn bán thuốc phiện, trồng cần sa ngày một gia tăng ở Ba Lan. Chỉ tính từ đầu 2010 đến nay đã có 7 vụ người Việt Nam bị bắt vì trồng cần sa. Điều này làm xấu đi hình ảnh người Việt nam trong con mắt chính quyền và nhân dân Ba Lan. Từ 1998- 2006 có 236 người VN bị bắt về tội phạm gây tổn thất cho người khác, tuy vậy cảnh sát cho rằng vụ việc được phát hiện ít hơn nhiều so với thực tế. Việc buôn người được phối hợp tổ chức do nhóm người của Ukraina, Ba Lan, Đức, Czech, nhưng từ 1995-2010 chỉ phát hiện được rất ít trường hợp. Hoạt động của người VN không là đối tượng theo dõi của cảnh sát, cơ quan công tố.
Bảo hiểm y tế, sức khoẻ: Số công dân VN đăng ký bảo hiểm sức khoẻ là 2416. Đây là con số rất thấp so với số người VN sinh sống tại Ba Lan. Bảo hiểm y tế không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền lợi của những người sinh sống ở một quốc gia phát triển. Việc thực thi quy định về luật lao động của người VN trong công ty có những hạn chế, nhất là trong lĩnh vực ăn uống (không có hợp đồng lao động, không đảm bảo vệ sinh thực phẩm, làm quá giờ, khai thấp lương, hãng dởm, không kê khai hàng hoá kinh doanh…). Nhà nước Ba Lan thường xuyên kiểm tra (tần xuất đến 75%) trong số gần 40 nhà hàng và 300- 400 quán ăn của người Việt trên khắp Ba Lan (số liệu của Ba Lan). It kiểm tra các hãng kinh doanh quần áo, dầy dép là do đăng kí không rõ ràng, tầm cỡ nhỏ.
Trong tương lai khó khăn lớn nhất của cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan (cũng đã xẩy ra ở nhiều nước) chính là việc không có “ngôn ngữ chung” giữa các thế hệ. Người già thì giỏi tiếng Việt, ngược lại thế hệ sau lại giỏi tiếng bản xứ, không biết ngôn ngữ Việt.
Đặc điểm của xã hội hội Ba Lan –xứ sở tiếp nhận dân di trú.
Đó là dân tộc khá thuần nhất về chủng tộc. Thiên chúa giáo xem như quốc giáo. Ba Lan có nền văn hoá phát triển với nhiều tài năng xuất chúng, tầm cỡ quốc tế trải qua nhiều biến động lịch sử phức tạp (hào hùng và đau thương). Người Ba Lan cũng bôn ba khắp thế giới, nhất là sau thế chiến thứ II. Với những đặc điểm như vậy, với khí hậu ôn đới, người Ba Lan bình thường sống ôn hoà, thương người, độ lượng. Giới kinh doanh buôn bán Ba Lan từng trải – là đối thủ cạnh tranh. Vì thế sống ở Ba Lan nên thực hiện phương châm: sống hoà bình „ tránh đối đầu”. Người dân Ba Lan sống yên tĩnh, ít gây xung đột, nhưng khá nguyên tắc, thậm chí có nhiều lúc „ích kỷ” trong việc bảo vệ quyền lợi riêng. Họ vẫn coi mình là dân tộc đẳng cấp cao so với nhiều dân tộc khác. Với người VN vì có sự khác biệt mắt trần cũng thấy, nên quan hệ „chủ-khách” người chủ tuy mến khách, mở cửa, nhưng chờ xem khả năng thích nghi với hoàn cảnh của người khách như thế nào, chứ chưa tạo điều kiện thật tốt đề dân di cư hoà nhập?
Người VN trong con mắt người Ba Lan. Đó là một cộng đồng khép kín, khá khôn ngoan, người VN di cư sang BL để kiếm tiền cải thiện điều kiện sống của mình, gia đình mình, đầu tư cho con cái học hành. Hội nhập không yêu cầu tiếp nhận văn hoá, ngôn ngữ (asymilacja, akulturacja), mà là thích nghi với văn hoá Ba Lan.
Người Việt Nam thích sống gần gũi nhau, tăng cường mối quan hệ gia đình, láng giềng, đồng nghiệp, đồng hương (trong nhiều nghĩa), bạn bè, đồng lứa, đồng sở thích. Ví dụ: Tìm công ăn việc làm phần đông qua giới thiệu của người quen, gia đình. Nhiều người VN sau tốt nghiệp đại học, có đủ tiêu chuẩn làm việc ở các công sở, công ty lớn, nhưng họ chọn làm ở các trung tâm thương mại. Lý do được đối xử bình đẳng (so với làm cho chủ nước ngoài). Cũng có lý do khác: thích tự do, muốn làm chủ công việc, lại có thu nhập cao hơn. Có được sự lựa chọn khác: không phải sát hạch trình độ, không cần phấn đấu để tiến thủ, không phải đương đầu với những thử thách công việc.
Người VN có nhiều hoạt động gắn với văn hoá, truyền thống, tập quán trong các tổ chức của mình. Truyền thống sinh hoạt gia đình của người VN khá chặt chẽ, rất cơ bản. Có thói quen áp đặt tiêu chuẩn đạo đức, tiêu chuẩn học hành cho con cái. Lũ trẻ sớm nhận ra rằng chúng mắc nợ cha mẹ mình những điểm giỏi và vì vậy chúng phải học thật nhiều. Bố mẹ chăm chỉ trong lao động, gương mẫu trong sinh hoạt, là tấm gương cho con cái bắt chước.
Dr Teresy Halik i prof. Ewa Nowicka Rusek khảo sát trong trường học rút ra kết luận: Càng nhiều học sinh VN thì hội nhập càng kém. Bảo vệ văn hoá bản địa qua giáo dục ngoài khoá như dạy tiếng việt, hướng dẫn các tiêu chuẩn văn hoá, nguyên tắc ứng xử truyền thống dân tộc phải chăng tạo thêm rào cản hội nhập (khó chấp nhận lấy vợ, lấy chồng người nước ngoài)? Dù được nhận thức cần tăng cường quan hệ với người BL, trên thực tế họ ít thăm viếng gia đình BL (ngay cả trong những ngày lễ hội lớn như Giáng sinh, Phục sinh). Ít học hỏi, tìm hiểu phong tục, văn hoá Ba Lan (rất ít người biết phong tục, tập quán, văn hoá và thể hiện những bài hát truyền thống Ba Lan cả trong các lễ hội).
Các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá, đánh giá cao khả năng thích nghi của người VN với những điều kiện thay đổi văn hoá - xã hội. Đặc trưng xã hội VN là trách nhiệm với gia đình và cộng đồng là gốc rễ cuộc sống xã hội, khác biệt với chủ nghĩa cá nhân tây Âu và khái niệm xã hội gồm tợp hợp các thành phần (atomistycznego pojmowania społeczeństwa). VN có hai mức truyền thống: phép vua và lệ làng (Khổng tử- lớn và lệ làng - nhỏ). Được xem như chủng tộc thiểu số lớn nhất ở BL, nhưng còn thiếu trường tiếng việt cho người BL, thiếu các sinh hoạt văn hoá, văn nghệ cho mọi người, kể cả dân bản xứ. Có quá ít những hoạt động quảng bá văn hoá, lễ hội, chiếu phim Việt Nam định kỳ, vì qúa bận mưu sinh nên cái gọi là „hội nhập” chủ yếu là khẩu hiệu.
Người Ba Lan không thích người châu Á (trừ Nhật) trong đó có người VN, người TQ vì do trình độ phát triển, chứ không phải màu da hay nét mặt ( 34-49%). Người Ba Lan có quá ít thông tin, tiếp cận, hiểu biết về người VN (dưới 50%), có cảm tình (15-24%). Dân BL khẳng định là dân tộc đề cao tính cách dân tộc (80% tự hào là người BL, là người thiên chúa giáo). Chỉ có 25% người BL thích hàng xóm là người nước ngoài, không thích con mình lấy người VN, TQ, Nga. 75% người BL chấp nhận lao động là người nước ngoài và ngày càng ủng hộ làm bất cứ việc gì, nhưng không phải là gánh nặng.
Nếu được hỏi người VN ở BL có lợi hay không thì câu trả lời tương ứng 25%. Người VN được đánh giá (dưới nhiều khía cạnh) là lễ độ, ít gây sự, cần cù, năng động, khép kín. Mặt kém: bẩn thỉu, ồn ào, hung hãn (nachalny), láu lỉnh và thô lỗ (chamski), tính cách luồn cúi bị người BL đánh giá thấp nhất. Người VN thế hệ đầu – người khách đáng yêu. Thế hệ sau khách không mời, nhưng chấp nhận.
Người VN hội nhập ở các nước khác.
So với các cộng đồng thiểu số khác, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng trẻ, năng động, nhanh chóng hoà nhập và đại đa số có xu hướng định cư lâu dài ở nước sở tại chủ yếu là Mỹ, Ôt-xtrây-lia, Canada các nước Tây Âu (khoảng 80% đã nhập quốc tịch nước cư trú nhưng hầu hết chưa thôi quốc tịch Việt Nam), trong khi phần lớn người Việt tại Nga, Đông Âu vẫn coi cuộc sống là tạm cư, khi có điều kiện sẽ trở về nước (tài liệu của Bộ Ngoại Giao VN).
“Cộng đồng người Việt Nam với truyền thống hiếu học đã hội nhập khá sâu rộng trong xã hội đa văn hóa Đức và có vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng cường quan hệ giữa hai nước” , „Cộng đồng người Việt Nam tại Đức là cộng đồng châu Á lớn nhất với khoảng 120.000 người. Hiện họ đã hội nhập rất tốt vào xã hội đa văn hóa của Đức.
Đã có rất nhiều người Việt Nam thành công tại Đức, thậm chí còn thành công hơn cả nhiều người Đức. Điều này được thể hiện rõ nhất trong số người Việt Nam thế hệ thứ hai, đặc biệt là sinh viên và học sinh. Những người Việt Nam này nói tiếng Đức rất tốt, học các môn rất nổi trội, chăm chỉ và có thành tích cao trong học tập cũng như nghiên cứu” Giáo sư Martin Grossheim, Bộ môn lịch sử và xã hội Đông Nam Á, ĐH Humboldt Berlin (Đức) nhận xét.
Có được các thành công này là nhờ đặc điểm nổi bật trong tất cả gia đình người Việt Nam: truyền thống hiếu học. Tại sao? Vì con cái muốn trả ơn bố mẹ, hoàn thành trách nhiệm gia đình hoà nhập vào xã hội. Cũng có thể, chúng cảm thấy như có lỗi, vì chúng được nuôi nấng trong một đất nước tự do và giàu có, trong khi bố mẹ chúng phải trải qua cả một thời gian khốn khó chiến tranh. Khó khăn lớn nhất của cộng đồng người Việt Nam tại Đức, theo ông chính là việc không có “ngôn ngữ chung” giữa các thế hệ. Chính điều này khiến các thế hệ Việt Nam giữa hai quê hương Đức - Việt hiện đang lơ lửng “giữa các tầng mây”, loay hoay cho hướng đi của mình. Cái giá phải trả chính là người Việt ở nước ngoài dù ở đâu đều bị coi là người khác? So với dân di trú Thổ Nhĩ Kỳ hay người Ả-Rập, quá trình hội nhập của người Việt Nam diễn ra tích cực hơn rất nhiều. Chính vấn đề giáo dục là một trong những lĩnh vực mà người Thổ “đi sau thời đại“.
Tạp chí điện tử giành cho phụ nữ tại địa chỉ www.prozeny.cz hôm 12/08/2010 của tác giả Jan Zlatohlávek, đánh giá về người Việt Nam tại CH Séc. „Tất cả họ trao gửi hết cho con cái và hy sinh cả cơ hội tiến thân của mình. Và những đứa trẻ ấy, người Séc với dòng máu châu Á, trong tương lai sẽ có cuộc sống hoàn toàn khác”, „Cách sống và khả năng hội nhập cao của họ xứng đáng nhận được qui chế dân tộc thiểu số”.
Các trường đại học Séc bắt đầu tiếp nhận hàng trăm sinh viên Việt Nam đầu tiên mang quốc tịch Séc và hộ chiếu Séc. Có cảnh sát “Việt“ thứ nhất. Và sẽ ngày càng nhiều doanh nhân Việt Nam là chủ lao động thuê nhân công người Séc. So với năm ngoái, năm nay nhu cầu kiểm tra tiếng Séc của người nước ngoài ở Séc để xin định cư tăng tới 50%.
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Giáo dục ở Praha thì công dân Ukraina có nhu cầu học tiếng đông nhất, nhưng những người không qua nổi kỳ kiểm tra tiếng Séc nhiều nhất lại là người Việt. Chủ tịch UB thỉnh nguyện QH Séc nói: „Hiện nay có 56 nghìn người Việt Nam sống hợp pháp ở CH Séc, hội nhập của họ không gặp khó khăn, hay ít ra là không phức tạp bằng các dân tộc thiểu số khác. Cần đối xử không công bằng với cộng đồng này trong tương lai là lợi ích chung của chúng ta“.
Đại diện chính phủ có mặt trong cuộc họp của Uỷ ban thỉnh nguyện đã giải thích rằng phần lớn những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ CH Séc này không có quốc tịch Séc, là điều kiện tiên quyết để chấp nhận qui chế dân tộc thiểu số.
Đại sứ Anh Mark Kent nói cho BBC Tiếng Việt biết chỉ trong năm 2009 đã có hơn 29.000 lượt người nhập cư bất hợp pháp đã bị ngăn chặn tại đường hầm xuyên biển giữa Anh và châu Âu. Chừng 525 người Việt Nam đã bị trục xuất khỏi Anh sau khi bị bắt giữ vì nhập cư lậu.
Vì lợi nhuận cao trong việc trồng, buôn bán cần sa từ 200.000 - 500.000 bảng Anh/năm, ông nói: "Tôi không muốn thấy việc nhắc đến chữ Việt Nam là người ta liên tưởng tới trồng cần sa và nhập cư bất hợp pháp". “Thật không may là uy tín của cộng đồng người Việt tại Anh vào lúc này đang bị ảnh hưởng tiêu cực”.
Một báo cáo của cảnh sát Anh được trích dẫn trên „Evening Standard”: Tội phạm có tổ chức người Việt được cho là gần như thống lĩnh toàn bộ thị trường