Ngày 28 tháng 11 năm 2010 tại Trường Cao đẳng Tâm Lý Xã hội (Szkola Wyzszej Psychologii Spolecznej), ở Vac-sa-va có tổ chức hội thảo với tiêu đề „Những người đến Vac-sa-va từ Việt Nam và từ phía đông biên giới" (Warszawiacy z Wietnamu i zza wschodniej granicy). „Phía đông biên giới” ở đây là chỉ những người Ukraina và Bielarus.
![]() |
| Các Đại biểu dự hội thảo ngày 28/11/2010 tại Trường Cao đẳng Tâm Lý Xã hội. |
Các báo cáo viên gồm:
1. Các nhà tâm lý học, xã hội học….
2. Đại diện của ủy ban hành chính tỉnh Mazowiecki ở Vacsava – bộ phận giải quyết các vấn đề người nước ngoài (Urząd do Spraw Cudzoziemców).
3. Đại diện của các cộng đồng người Việt Nam, Ukraina và Bielarus.
Trong số người tham dự có những nhà khoa học đến từ các trường đại học khác ở Vac-sa-va, đại diện của tổ chức phi chính phủ „Tự do ngôn luận”(Towarzystwo Wolnego Słowa), đại diện hải quan Ba Lan…, đặc biệt là đông đảo những nhà khoa học trẻ mới tốt nghiệp đại học và các sinh viên Ba Lan quan tâm đến đề tài. Về cộng đồng người Việt có: TS Đào Công Ngoạn, Phó chủ tịch ban chấp hành Hội người VNTBL „Đoàn kết và Hữu nghị”, phó tổng biên tập báo Quê Việt phụ trách báo điện tử; TS Nguyễn Xuân Nhung, phó tổng biên tập báo Quê Việt; TS Nguyễn Mình Thành, phó giám đốc Trung tâm thương mại ASG, biên tập viên báo Quê Việt, Trương Đình Toe, phóng viên báo Quê Việt cùng nhiều anh chị đại diện cho giới sinh viên, các hội đoàn, các tổ chức và công ty của người Việt ở Vac-sa-va.
![]() |
| đông đảo những nhà khoa học trẻ mới tốt nghiệp đại học và các sinh viên Ba Lan quan tâm đến tham dự |
Mở đầu hội thảo là báo cáo kết quả nghiên cứu của giáo sư Paweł Boski – viện Tâm Lý thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan (PAN), giảng viên trường Cao đẳng Tâm lý Xã hội (SWPS) và tiến sĩ Monika Bialas-Henne, giảng viên Trường SWPS kể trên. Đối tượng của hai nhà nghiên cứu là 100 người Việt, 50 người Ukraina và 50 người Białaruś. Số đối tượng thăm dò người Việt cao hơn vì họ ở Vacsava đông hơn người hai nước kia, chứ không phải là sự tình cờ. Kết luận của các nhà nghiên cứu đưa ra tương đối thú vị: Người Việt cần cù hơn so với người từ hai nước kia. Người Việt có thu nhập cao hơn, nhưng tiết kiệm hơn. Sức chịu đựng căng thẳng của người Việt cũng cao hơn. Người Việt khó khăn hơn về ngôn ngữ, nhưng khả năng thích ứng với môi trường sở tại lại lớn hơn. Về sự gắn bó với địa phương mình ở, người Việt ít nhận ra được những tượng đài, những công trình kiến trúc nổi tiếng, những địa điểm có ý nghĩa lịch sử đối với người Ba Lan - ví dụ như ảnh tượng đài cuộc khởi nghĩa Vac-sa-va (Về cuộc khởi nghĩa Vac-sa-va đã có bài viết của T.Đ.Toe trên Quê Việt), không mấy ai biết là gì - nhưng nếu nhận biết được thì tỏ ra có cảm xúc cao hơn người Ukraina và Bielarus.
Đề tài về người Việt, đáng lưu ý là báo cáo của giáo sư Teresa Halik và cử nhân Monika Grabowska về đề tài học sinh người Việt trong các trường học Ba Lan và mong đợi của các phụ huynh. Đây cũng cần nói, giáo sư Teresa Halik là người từng học và tốt nghiệp Việt ngữ tại Hà Nội, là một chuyên gia về Việt Nam. Theo giáo sư, các bậc phụ huynh người Việt có con học ở các trường Ba Lan luôn tin tưởng vào nhà trường, mong đợi con cái chấp hành nội quy, đạt được những tiêu chuẩn của nền giáo dục Ba Lan và không phạm những điều mà cha mẹ phải xấu hổ.
Đa số học sinh người Việt và gốc Việt học tốt các môn tự nhiên, đặc biệt là môn toán. Nhưng các phụ huynh không đặt ra vấn đề là liệu sự giáo dục của nhà trường có thích hợp với khả năng của con cái mình không? Một trong những vấn đề đáng phải suy nghĩ là các học sinh Việt Nam giỏi tiếng Ba Lan hơn tiếng Việt. Tiếng Ba Lan càng giỏi bao nhiêu thì sự khác biệt với cha mẹ càng lớn bấy nhiêu. Điều đó không thể không đưa đến sự mâu thuẫn về văn hóa giữa hai thế hệ. Sự có mặt ngày càng đông của trẻ em người Việt tại các trường Ba Lan cũng là thách thức đối với nhà trường. Theo nữ cử nhân Ewa Grabowska, để tạo điều kiện cho học sinh người nước ngoài (trong trường hợp này là học sinh gốc Việt) hội nhập, nhà trường phải giúp các em hòa nhập được với tiêu chuẩn văn hóa, kiểu cách suy nghĩ và hành sử Ba Lan, thay vì đưa thêm vào hệ thống giáo dục những yếu tố văn hóa khác biệt - điều mà „nền giáo dục đa văn hóa” đương được quảng bá ở châu Âu đòi hỏi.
![]() |
| Các nhà nghiên cứu đánh giá cao về cộng đồng người Việt ở Ba Lan. |
Đại diện cho người Việt, tiến sĩ Nguyễn Minh Thành đọc tham luận về đề tài „Hoạt động kinh tế của người Việt Nam tại Vac-sa-va- từ buôn bán nhỏ quanh sân vận động đến kinh doanh cỡ lớn" (Dzialalnosc gospodarcza Wietnamczykow w Warszawie, od handlu wokoł duzego stadionu do duzego biznesu”), Tiến sĩ Thành đã khái quát lịch sử hình thành cộng đồng người Việt tại Ba Lan trong vòng năm chục năm lại đây. Đưa ra những hình ảnh chứng tỏ sự trưởng thành của doanh nghiệp Việt Nam tại Ba Lan. Lúc đầu người Việt buôn bán vặt vãnh để kiếm sống, chủ yếu trên chợ Sân vận động Mười Năm, tiến tới xây dựng được những trung tâm thương mại hoành tráng.
Trên đây tất nhiên chỉ là vài nét chấm phá về cuộc hội thảo kéo dài từ 10 giờ 30 đến 18 giờ. Trừ hai báo cáo của nhà báo Aleksei Dzikavistki người Bialarus và Ina Achtyrska người Ukraina, tất cả các tham luận khác đều đề cập đến người Việt Nam, có một số tham luận nói hoàn toàn về người Việt Nam. Các nhà nghiên cứu đánh giá cao về cộng đồng người Việt ở Ba Lan. Đối với chúng ta, đấy là điều đáng khích lệ. Tuy vậy thiết tưởng chúng ta cũng không nên quá tự hào, phải tự thừa nhận một số điểm rất đáng phải khắc phục mà chúng tôi sẽ nói đến vào dịp khác.
Trương Đình Toe


