Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Nguyễn Đăng Cường - Người kỹ sư trở về từ Ba Lan - Phần II

05/12/2010 20 phút đọc Theo: Người đương thời
Phần II   NĐT: Suốt thời gian làm việc, nghiên cứu khoa học, ông đã có nhiều công trình có giá trị, đâu là những điều
Nguyễn Đăng Cường - Người kỹ sư trở về từ Ba Lan - Phần II
Phần II

 

NĐT: Suốt thời gian làm việc, nghiên cứu khoa học, ông đã có nhiều công trình có giá trị, đâu là những điều tâm đắc nhất?

 

Ông NĐC: Có thể nói cuộc đời là những chuyến đi, và tôi cũng thế. Tôi đã đi nhiều hơn tôi tưởng và sau những chuyến đi ấy là những nấc thang đáng nhớ trong đời. Giai đoạn ở phía Bắc (1964 - 1984):  Năm 1964, khi thi công hai tàu cá đầu tiên mang tên Việt - Triều, chỉ còn 3 ngày phải giao bản thiết kế hệ thống tời kéo lưới, mà cả chuyên gia và nhóm kỹ sư VN chúng tôi đều bế tắc, không ai nghĩ ra phương án hợp lý vì không gian cho phép rất hạn hẹp của buồng máy tàu. Rồi cuối cùng tôi nẩy ra ý kiến sáng tạo. Chuyên gia chấp nhận. Vui mừng đến nỗi chuyên gia ôm lấy tôi, rồi cả nhóm chúng tôi nhẩy cẫng lên vui mừng như trúng số độc đắc tại Khách sạn Hữu nghị Hải Phòng. Đây là niềm vui về thành công đầu tiên của tôi trong KHKT và giúp cho kế hoạch thi công tàu không gián đoạn. Từ đó chuyên gia đánh giá cao về năng lực của tôi. Và đó cũng là kinh nghiệm được ứng dụng cho rất nhiều tàu sau này.

 

Năm 1967, tôi đã thực hiện cuộc hành trình gần 2000km bằng xe đạp trong chiến tranh ác liệt. Thực hiện chủ trương cơ giới hóa tàu thuyền của ngành thủy sản, tôi được phân công cùng một đồng nghiệp đi khảo sát, điều tra các loại thuyền điển hình tại các vùng biển từ Móng Cái đến Quảng Bình - Vĩnh Linh bằng xe đạp. Đây là thời kỳ chiến tranh phá hoại ác liệt nhất của Mỹ ở miền Bắc. Thậm chí có người nghĩ, đi chuyến này chưa chắc gặp lại ”thằng Cường”.

 

Chúng tôi trải qua nhiều ngày đạp xe trên các đường dã chiến quanh co núi rừng, làng mạc, bãi cát ban ngày cũng như đêm tối không một ánh đèn, có khi không ăn, ngủ bừa trên sân gạch, bên lề đường. Chiến tranh ác liệt, nên tất cả các quốc lộ đều bị oanh tạc, một ánh đèn cũng có thể gây nguy hiểm.

 

Khi ở bờ biển Tĩnh gia Thanh Hóa, giáp Nghệ An, trong lúc đạn pháo hạm đội 7, bay trên đầu, bất kể lúc nào, thì đêm hôm ấy hai chúng tôi phải khởi khởi hành đi Nghệ An vào 2 giờ đêm. Và sẽ phải qua 2 chiếc cầu mang tên cầu Lau và cầu Hổ. Đây là 2 mục tiêu đánh phá ác liệt của máy bay  Mỹ. Khi chia tay bà con ở đây còn chúc chúng tôi thoát chết!!! Chúng tôi băng qua cánh đồng trong đêm tối mờ mịt, cứ lần theo bờ ruộng mà đạp xe. Khi mờ mờ nhận ra quốc lộ tôi đã mừng thầm. Nhưng bỗng tim tôi thót lại, khi nhìn thấy 5 xác chết nằm la liệt trên đường, bên cạnh cầu. Tôi hoảng hồn. Nhưng....kìa....thấy có xác cựa quậy, rồi có tiếng phụ nữ: Mấy giờ rồi hả anh? Ôi, lúc này tôi mới hoàn hồn và đáp: Mới 3 giờ sáng thôi. Thì ra đó là những cô gái TNXP có trách nhiệm bảo vệ 2 chiếc cầu mà tôi phải vượt qua. Họ làm việc mệt mỏi, tranh thủ đêm tối ngủ thiếp ngay trên đường vì chẳng có xe tải nào đi, ngoài đi bộ hoặc bằng xe đạp. Tôi dắt xe đến đầu cầu, mà chưa hề biết. Trong đêm tối ,từ bên kia cầu, một ánh sáng đèn pin lướt qua trong một giây, chỉ đủ để tôi nhận ra 2 thanh đường ray xe lửa bắc qua cầu cho người đi bộ. Tôi ngồi xuống nắm 2 bàn chân đặt vào đúng 2 đường ray rồi vác xe đứng lên, và từ từ nhích từng chút một, phía dưới nước suối réo, không biết cây cầu dài ngắn ra sao, tim tôi hồi hộp, chỉ mong sao qua được an toàn. Sang đến bờ bên kia, lập tức nhảy lên xe phóng như điên trong ánh sao lờ mờ.

 

Khi trên đường quay ra, cũng gần vùng này vào buổi tối, tiếng các cô gái TNXP, hát cười véo von, lạc quan cứ như không có chiến tranh. Đúng là tiếng hát át tiếng bom, khiến tôi rất khâm phục. Nhưng khi tôi qua khỏi chỗ ấy chẳng bao lâu thì máy bay đến bắn phá. Tôi thầm nghĩ không biết các cô gái ấy ai mất ai còn?! Họ thật dũng cảm, làm tôi thêm nghị lực, gian khổ của mình chẳng thấm vào đâu!

 

Khi đến địa phận Móng Cái, ngoái nhìn lại phía sau, dãy núi hùng vĩ trùng điệp, tôi không thể tưởng tượng được rằng mình đã vượt qua nó bằng xe đạp! Chúng tôi đã đến bãi biển Trà Cổ, tận cùng đất nước, giáp TQ, mà nay là bãi biển du lịch nổi tiếng. Tại đây, ở Mũi Ngọc, tôi và anh bạn cùng đi, chỉ còn vỏn vẹn có miếng bát bột mì, lương thực mang theo, trong lúc chả có gì ăn. Vào cửa hàng hải sản địa phương, may quá còn đúng 2kg sò huyết. Mượn nồi, kiếm củi, chúng tôi tự nấu cháo sò huyết. Cháo sò huyết hôm ấy, là bát cháo nhớ đời, giống bát phở ở Phát Diệm thời chạy chống Pháp mà mẹ tôi cho ăn khi chạy loạn. Nói chung cả cuộc hành trình này, trải qua nhiều nguy hiểm, nhưng cuối cùng đã đem lại kết quả. Đó là sau đó tôi là chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước, xây dựng Tuyển tập Mẫu tàu cá Việt Nam. Và năm 1983 đã xuất bản thành sách.

 

Cu Ba năm 1969 cũng là một dấu ấn khó quên, như trên đã nói, tôi là thành viên trong đoàn 3 người của ngành thủy sản, một đoàn kinh tế đầu tiên, sang Cu  Ba, theo chỉ thị của Chính phủ. Từ kết quả của Đoàn này, nước ta mới có chủ trương đánh tôm, chứ không chỉ đánh cá thuần túy như trước. Cũng từ đó chúng tôi lao vào thiết kế và đóng các tàu đánh tôm đầu tiên ở nước ta.

 

Ông Nguyễn Đăng Cường cùng vợ - bà Trần Thị Minh Châu và các con - Nguyễn Hải Đăng, Nguyễn Hải Sơn.

Do phương án của một đồng nghiệp thiết kế, không đạt yêu cầu, mà ngày bàn giao tàu sắp đến, gây dư luận không tốt. Thế nên tôi nhận việc giải quyết sự cố tàu cá Đông Phong năm 1973. Trước tình hình phải chữa cháy do lãnh đạo yêu cầu, tôi đã lên đường đi Hải Phòng, nơi đang thi công tàu. Trên tàu tôi đã phác vẽ tay tất cả các chi tiết của toàn bộ hệ thống chuyền lực lên tời kéo lưới, theo phương án của tôi để thay thế... Nếu được Nhà máy chấp nhận thì cho thi công ngay mới kịp thời gian.

 

Thế nhưng tất cả hội nghị kỹ thuật nhà máy đều phản bác. Thậm chí có ý kiến mỉa mai: ”Không biết thì đừng làm liều?! Thế nhưng không ai đưa ra được phương án khác. Cuối cùng họ phải chấp nhận phương án của tôi. Lập tức bản vẽ tay của tôi được cho thi công. Tuy nhiên lãnh đạo của tôi rất lo lắng. Khi được hỏi, tôi trả lời: ”Tôi tự tin, nhưng trước ý kiến phản bác phải nói cũng hơi run đây!” Chỉ sau ít ngày, mọi cấu kiện được lắp ráp, và cuộc thử được tiến hành và thành công mĩ mãn đến quá mức mong đợi. Tất cả đều thở phào, khen ngợi ”Anh nào thiết kế này, thật tuyệt!” Bàn giao tàu đúng tiến độ, uy tín của tôi được nâng cao. Các con tàu này khi đưa vào sử dụng rất có hiệu quả.

 

Năm 1977, một lần nữa tôi đã cứu được 2 lưới tàu tôm. Đó là con tàu do Viện chúng tôi thiết kế. Theo thường lệ chúng tôi đều tiến hành thử tại biển trước khi bàn giao cho chủ tàu. Cuộc thử do nhà máy chủ trì, tại biển Cát Bà Hải Phòng. Khi vừa khởi động tời kéo lưới thì chốt chính, chuyền lực bị gẫy, ren trờn hết. Và không có ai đề ra phương án giải quyết, ngoài tôi. Nhưng nhà máy không chấp nhận. Sau nhiều giờ, chiều đến sóng gió nổi lên đe dọa tàu, tất cả đều say sóng, nằm la liệt. Lúc ấy giám đốc xí nghiệp mới đồng ý phương án của tôi. Điều kiện của tôi là: Người chỉ huy phải là tôi và mọi người phải chấp hành.

 

Tôi tự tin theo tính toán các thông số kỹ thuật của mình, và ra lệnh đóng chốt chuyền lực (thay vì xoáy ren, vì ren đã trờn hết)  và cho nổ máy và tời hoạt động theo thông số kỹ thuật mới do tôi đề ra. Lưới thứ nhất, rồi tiếp đến lưới thứ hai, từ từ được kéo lên, trong hồi hộp của bao người. Rồi đúng lúc lưới thứ hai lên đến boong thì ”cắc” chốt chuyền lực gẫy. Tất cả thở phào, nhẹ nhõm reo lên. Thế là đã cứu được cả 2 lưới. Trong sự cố như thế này, thường chỉ có một cách chặt bỏ 2 lưới để cứu tàu nếu sóng gió đe dọa, mà 2 lưới là cả một tài sản.

 

Hà Nội có nên thành lập đội tàu đánh tôm?  Đó là câu hỏi mà luận chứng phải giải đáp để tham mưu cho lãnh đạo TP.  Tôi được GS-TS. Tuấn - Đại học Bách Khoa Hà Nội, cố vấn cho lãnh đạo TP về KHKT, tìm đến và đề nghị tôi viết giúp mà thời gian chỉ khoảng 3 tuần, vì biết tôi am hiểu lĩnh vực này. Tôi đã hoàn thành và báo cáo trước toàn bộ lãnh đạo Hà Nội: Bí Thư Thành Ủy, Chủ tịch và các phó chủ tich cùng Ban ngành. Cuối cùng được đánh giá rất cao: lần đầu tiên một luận chứng có nhiều thông tin bổ ích, lập luận mạch lạc, chặt chẽ, có sức thuyết phục - Luận chứng đội tàu tôm cho Hà Nội (1982). Và chúng tôi được chiêu đãi một chầu tại nhà hàng Phú Gia nổi tiếng lúc ấy. Hà Nội sau đó đã tiến hành xây dựng đội tàu đánh tôm, và hoat động ở Kiên Giang. Năm 1984, Tiến sĩ Tuấn vào TPHCM gặp tôi và nói vui rằng: Hà Nội còn nợ ông Cường - Một luận chứng như thế mà chỉ có 1 bữa chiêu đãi!

 

Từ năm 1984 tôi chuyển vào Nam công tác. Khoa học chiến thắng (1984) là kỷ niệm đầu tiên khi tôi vào đây. Sau khi chuyển vào TP HCM với tư cách PTGĐ công ty Cơ khí Thủy sản, tôi được phân công: làm sao ổn định chất lượng toàn bộ hệ thống kéo lưới cho 30 tàu do công ty đóng cho quốc doanh đánh cá TP.HCM. Thời gian trước đó đã có nhiều trục trặc hệ thống này, khiến cho nhiều người lo lắng. Với tàu đánh bắt hải sản, thì đây là khâu vô cùng quan trọng, nếu trục trặc thì không thể đánh bắt được và chỉ còn... trở về bến! Công ty tôi đã tổ chúc đóng tàu tại Nha Trang và tôi đã ra đó vừa thiết kế vừa chỉ đạo thi công tại chỗ. Trong hệ thống trích công suất từ máy chính, thì ly hợp là quan trọng nhất. Tôi thiết kế rất nhỏ gọn. Thế nhưng khi đoàn của quốc doanh đánh cá TP9 (bên A)  ra kiểm tra thì lại phản bác gay gắt.

 

 - Chúng tôi đã dùng các ly hợp to như nòng pháo ”vua chiến trường” mà còn bị bể, vỡ. Thế mà đồng chí Cường lại làm nhỏ xíu thì làm sao chịu được? – Trưởng đoàn bên A nói, nếu không nghe chúng tôi, thì đồng chí Cường phải ký vào biên bản cam kết bồi thường mọi thiệt hại cả chuyến biển!

 

 Tôi vừa vào Nam công tác, chưa được một tháng, mọi phong cách còn bỡ ngỡ, đây lại là công trình quan trọng đầu tay ở phía Nam, trước tình hình đó khiến tôi hơi bị sốc.

 

 - Tôi đã nghiên cứu, để vừa thuận tiện và an toàn cho người sử dụng vừa tiết kiệm. Nhưng tôi không ngờ các anh lại không chấp thuận. Vậy tôi sẽ cho lắp song song hai phương án, của tôi và theo ý kiến các anh để so sánh.

 

Trước sự đe dọa như vậy, tôi kiên trì ý tưởng: Không thể để tình trạng phi kỹ thuật tiếp diễn mãi được. Sau khi 2 con tàu được lắp 2 phương án, và đưa về TP, tôi đã trực tiếp đến quốc doanh đánh cá TP, để xem công nhân vận hành thử. Ngày hôm sau, một đoàn cán bộ quốc doanh lên gặp tôi và bắt tay chúc mừng tôi và nói rằng: Cuối cùng KHKT chiến thắng! Họ thừa nhận rằng thiết kế của tôi hơn hẳn. Thế là từ đó tất cả 30 con tàu đều thực hiện thiết kế của tôi và trong nhiều năm sau hoạt động rất hiệu quả, toàn bộ hệ thống hoạt động rất tốt. Cũng từ đó uy tín của tôi lên vùn vụt, và đã giải quyết nhiều vấn đề khác có sức thuyết phục lớn. Về hệ thống kéo lưới của tàu cá, có thể nói tôi đã thành công nhiều phương án khác nhau trong đó tận dụng rất nhiều cấu kiện xe hơi phế thải. Những năm sau này, có DN ở Nha Trang khoe với tôi rằng: ”Em vừa nhận giải thưởng của tỉnh, trong hội thi sáng tạo về hệ thống kéo lưới, mà em làm theo thiết kế của anh”. Tôi vui mừng và coi như mình đoạt giải.

 

Trong kinh doanh tôi cũng có nhiều thành công, đem lai hiệu quả kinh tế lớn cho công ty. Trong đó có một 1 hợp đồng mà tôi gọi là ”Hợp đồng thế kỉ”, vì nó không thể lập lại nữa, mà cho đến nay chưa ai biết lý do nào mà hợp đồng, thuộc 2 nhà nước, lại lọt vào tay tôi và do chính tôi thực hiện, đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn.

(còn nữa)

Theo Người đương thời 

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu