Cứ mỗi lần về Việt Nam, tôi lại được chứng kiến những đổi thay. Mỗi một sự đổi thay đều mang tính chất hai chiều, tiến lên phía trước hoặc lùi lại phía sau. Bằng đôi mắt trần, cũng có thể nhận biết những đổi thay về xây dựng diễn ra với tốc độ chóng mặt. Nhưng lạnh lùng quan sát, mới thấy những tác hại khủng khiếp của lối làm ăn chợp giật, vô qui hoạch. Chỉ cần xây nhà lên để bán lấy tiền, còn cái gì nằm trong lòng đất thì chỉ đại khái, người mua nhà, mấy ai để ý. Ông trời bắt con người phải suy nghĩ lại. Cũng may, trong trận mưa lịch sử, tôi đang ở thành phố Hồ Chí Minh. Những thiệt hại và quang cảnh Hà Nội dạo đó, tôi chỉ được chứng kiến trên màn hình, kể cả những lời ca thán của dân tình và những lời phân bua của các cấp lãnh đạo. Bà chị của tôi tán thành với quan điểm là trời mưa to thế, nước dâng, không thể lường trước được. Tôi hỏi chị, dạo trước chị cũng đã ở Hà Nội, chị có thấy Khu Ba Đình hay Hoàn Kiếm ngập nước đâu, nếu có ngập thì chỉ những khu xây dựng sau này. Tại sao vậy? Đơn giản là cách đây hàng thế kỷ, người Pháp xây dựng Hà Nội, người ta đã lo trước hết các hệ thống tiêu thoát nước, nên khi gặp cơn mưa to, nước thoát hết. Bà chị tôi im lặng, nhưng đổ lỗi cho các vị thì chị không đành. Và hầu hết ngơời Việt đều có thái độ như chị tôi. Ngày thứ hai tôi có mặt ở Hà Nội, anh bạn thân mang đến cho tôi mấy chục trang in photocopy bài tùy bút chính trị của nhà văn Nguyên Khải, viết trước khi chết. Nó như một lời sám hối. Bài này tôi chưa được đọc, nhưng đã đọc những lời khen trên báo hải ngoại trước khi về nước. Tôi đọc bài của Nguyễn Khải được ba trang thì chán ngấy. Hóa ra thế hệ chúng tôi bị những vị như nhà văn này đầu độc. Nguyễn Khải đã từng viết những ký sự hừng hực lửa và trước khi chết còn được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Vậy thì vì cớ gì mà ông tự nhổ toẹt vào những trang viết của chính mình và cả chính cuộc đời mình? Sao không có được cái dũng cảm của các vị trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, mà đến khi được phục hồi họ lại rất được nhân dân quí mến. Nhà văn hóa tài ba Văn Cao một thời bị đọa đầy, nhưng ông có bẻ cong ngòi bút đâu, ông có lên tiếng nguyền rủa những kẻ đã hành hạ ông đâu, và khi mất còn được quàn tại Nghĩa Trang Mai Dịch. Đấy mới là nhân cách, đấy mới là con người.
Trước khi rời Việt Nam, tôi có nghe đến bài viết của Giáo sư Hoàng Tụy nói về sự giả dối trong mọi mặt của cuộc sống người Việt. Kể cũng lạ, một Giáo sư nổi tiếng về Toán Học, một người thầy của bao thế hệ, trước khi giã từ cõi trần lại quan tâm đến những nhức nhối của xã hội. Mà sự giả dối của người Việt thì viết đến bao giờ cho hết. Người Việt, đau biết mấy, sinh ra và lớn lên trong sự giả dối, hà tất phải bàn cãi. Sao nhà trường, xã hội, gia đình không đào tạo cho chúng ta cách suy nghĩ và làm việc trung thực? Sao Giáo sư không nghĩ ra một công thức nào cho chúng tôi chống lại sự giả dối ấy?.
Trước khi về Việt Nam, tôi có đọc trên mạng một quyển sách về làng xã Việt Nam. Một cách nhìn, một nhận định rất hay. Tự thưở nào, làng quê nông thôn ta được qui tụ theo phương thức hình tròn. Đầu làng, có cổng vào. Giữa làng phải có cây đa, giếng nước, đình làng. Các nhà trong làng quần tụ thành hình tròn, chung quanh đình. Nhưng ngày nay, mô hình đó đã bị thời cuộc đổi thay. Làng xã cũng theo mô hình thành thị. Thiên hạ đổ xô ra mặt đường. Bám mặt đường mà sống. Vậy là tạo ra một mặt phẳng với công thức đường thẳng. Mọi sự đổi thay theo thời cuộc, ấy là điều dĩ nhiên. Vì thế, tôi không bị bất ngờ khi một anh bạn của tôi, cho rằng không phải cái gì các cụ dạy cũng hợp thời. Chẳng hạn, các cụ dạy: Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại. Anh bạn tôi cho rằng, kẻ đã chạy đi thì đánh làm sao được nó, có họa là đánh vào đ... nó, còn thằng nào quay lại, thì phải đánh cho nó chừa cái thói coi thường người nhà. Một hôm ngồi hỏi chuyện các sếp cũ, thì mới biết lắm vị đi bóc lịch, nhẹ thì cũng bị cách chức, đuổi ra khỏi Đảng. Tôi chợt nghĩ, các cụ dạy: Đời cha ăn mặn, đời con khát nước là không đúng nữa. Bây giờ, ai ăn mặn, kẻ đó khát nước luôn.
Như vậy, văn minh và văn hóa là hai khái niệm ngược chiều. Văn minh phải tiến lên phía trước, thì con người mới tiến bộ lên được. Nhưng văn hóa phải vận hành ngược chiều với thời gian, thì con người mới gần gũi hơn với cội nguồn. Hoặc giả cả văn minh lẫn văn hóa đều quay theo quĩ đạo hình tròn hay xoắn ốc thì tôi cũng không biết nữa. Điều đó dễ nhận thấy khi cơn khủng hoảng toàn cầu ập đến. Cơn khủng hoảng năm 2008 này được ví như sự lặp lại của cuộc đại khủng hoảng xảy ra vào những năm 19 – 20 thế kỷ trước. Các nhà kinh tế học đua nhau tìm lại những tác phẩm kinh điển của Karol Mark. Những vị này cho rằng những luận cứ của ông là rất hợp thời. Nhưng người dân thì không viện đến lý luận. ở quê tôi, vào dịp cuối năm ngoái, một ký mủ cao su bán đơợc 16-20 ngàn đồng. Năm nay, chỉ 1,5-2 ngàn. Thử hỏi người làm ra mủ cao su sống làm sao? Tôi gặp một anh bạn, chủ một xí nghiệp không lớn lắm. Trông mặt mày anh ta ủ dột mà tội nghiệp. Anh nói từ khi thức dậy đến khi nằm xuống giường phải có ít nhất 10 triệu để trả tiền vay Ngân Hàng và tiền lương cho 70 người, chưa tính đến tiền chi trả cho mặt bằng thuê làm xưởng.
Cuộc khủng hoảng đụng đến ai thì người đó chết hoặc ngắc ngoải sống. Nhưng với đại đa số, thì cuộc đời vẫn đẹp sao. Cuộc sống cứ tiếp diễn theo nhịp điệu của nó. Mỗi ngày có vài chục sinh linh bỏ xác trên đường do tai nạn giao thông, mỗi ngày lại có dăm chục người được thăng quan tiến chức và đại bộ phận dân chúng vẫn lam lũ làm ăn vì cuộc đời vẫn đẹp sao.
Nhân dịp năm Kỷ Sửu, người viết bài này xin kính gửi đến bạn đọc Quê Việt cùng tất cả bà con chú bác một năm mới an khang, thịnh vượng.
Hồng Linh