![]() |
Cách nay mươi ngày, báo chí loan tin: 36 công trình thủy điện đang thi công phải đình hoãn.
Lý do chính được hiểu là do ba nguyên nhân:
1 - Làm tổn thương diện tích rừng ảnh hưởng đến môi sinh.
2 - Quản lý và thi công chậm hoặc chưa đạt các yêu cầu chuyên môn.
3 - Thủy điện gây ảnh hưởng đến lũ lụt theo chiều hướng xấu.
Bài viết này xin chia sẻ một số tư duy trên hai giả định:
- Một là tất cả các lý do nêu trên đều đúng.
- Hai là những nét cần bàn lại trong một số nguyên nhân trên.
Ba mươi sáu nỗi âu lo
Để đào thước khối đất móng đầu tiên cho công trình, chủ đầu tư ít nhất phải có một năm lên thành xuống tỉnh với bao nhiêu phần việc được giải quyết. Bộ hồ sơ tư vấn kỹ thuật cũng bạc tỷ, các quan hệ qua lại kiểu “Việt Nam” từ tấm giấy phép thành lập doanh nghiệp đến các văn bản trình duyệt từ sở tài nguyên - môi trường, sở địa chính, sở xây dựng, sở kế hoạch - đầu tư... cho đến phê duyệt của bộ chủ quản ngành điện phải được thông qua.
Nếu là nhà đầu tư, nhà doanh nghiệp hẳn phải biết rằng, lộ trình để thông qua từng ấy địa chỉ không phải suôn đuột, thẳng thớm như việc từ nhà ra siêu thị mua đồ mà nhiều khi trầy vi tróc vảy, bổ sung bổ túc, chờ đợi và điều chỉnh các “khuyết lệch” phát sinh.
Kế đó là quá trình lo vốn
Một công trình thủy điện nhỏ nhất cũng vài trăm tỷ, lớn tới cả chục ngàn tỷ thường là khả năng chung lưng liên kết của nhiều đối tác hoặc nếu chủ có đủ uy tín để vay mượn thì đó là một gánh nặng từ khối quyền lợi qua lãi suất hoặc các cam kết chia sẻ, trách nhiệm của người vay và người cho vay.
Nếu một công trình 500 tỷ, chủ tự túc được 60%, chỉ phải vay 200 tỷ thôi và được hưởng lãi suất bằng lãi suất vay của ngân hàng, khoảng 1,5% tháng thì cứ mỗi lần mặt trời lặn, doanh nghiệp này phải trả 100 triệu đồng.
Nếu công trình bị đình chỉ 6 tháng, riêng khoản tiền bay theo gió này sẽ là 18 tỷ đồng.
Nếu dự án bị xóa sổ, công trình bị hủy bỏ và khối lượng đã thi công chỉ là 10% thôi cộng các hệ lụy khi phá vỡ các cam kết với các nhà thầu, các nguồn lực hỗ trợ, doanh nghiệp sẽ “đứt” hẳn trên trăm tỷ đồng dễ như bỡn.
Ví dụ trên không phải chuyện giả tưởng, ba mươi sáu ông chủ của ba mươi sáu dự án bị đình hoãn, khi vào cuộc, thực thi đầy đủ các quy định của pháp luật, huy động tối đa các quan hệ và lao tâm khổ tứ trong quá trình thi công, nay ngồi trên đống lửa. Thiệt hại của ba mươi sáu doanh nghiệp này sẽ kéo theo nhiều rắc rối, liên đới với hàng trăm doanh nghiệp khác, hàng chục ngàn lao động trong các doanh nghiệp này nữa.
Ba mươi sáu sai lầm
Mấy đợt lũ lụt vừa qua, xuất hiện một số sai lầm trong việc xả lũ, thậm chí có con đập bị vỡ gây thiệt hại cho một vùng dân sở tại.
Sau đó, như một sự “giật thột” nói theo tiếng Nam bộ, các ngành chức năng tổng rà soát việc đầu tư thủy điện và ba kết luận về những tác hại của thủy điện nêu trên đầu bài được đưa ra.
Sau đó là lệnh hoãn
Nếu những nhận định ấy đúng hết thì tại đây, bộc lộ rất nhiều sai lầm, thiếu sót của một hệ thống hành chính tham gia phê duyệt những dự án này trước ngày hoãn.
Theo quy trình để thực hiện thì các doanh nghiệp làm thủy điện đã đi qua hết các “cửa” từ trung ương lên bộ để có được sự chấp thuận.
Vậy vai trò của những người ký duyệt này ở đâu?
Nếu những người ký duyệt không sai thì hệ thống quy định bao gồm các nguyên tắc đã lạc hậu, vô bổ, vô dụng.
Thực chất là gì?
Chúng ta hãy nhìn lại định chế về “tuổi xe” bên ngành GTVT thì biết.
Xe dưới 9 chỗ không tính niên hạn.
Xe tải dù nửa tấn trở lên chỉ được dùng 23 năm. Bất biết xe này trong 23 năm, vì bất cứ lý do gì có thể chỉ khai thác lối 50% thời gian trôi qua, bất chấp xuất xứ xe là Trung Quốc hay Pháp, Nhật.
Cho nên, điều dễ thấy là một chiếc xe du lịch Peugeot sản xuất từ năm 1953, đã chạy 57 năm, nếu đem bán sắt vụn ở Việt Nam chưa được 5 triệu vẫn có thể chở 5 mạng người đi như thường. Khi đó, chiếc xe tải Toyota của Nhật sản xuất năm 1986, giá trị sử dụng còn trên 60% chỉ dùng chở hàng thì đem bán phế liệu. Nên biết, hệ thống an toàn cho một chiếc xe tải gồm còi, đèn, phanh muốn chấn chỉnh đến mức tin cậy không quá 10 triệu bạc.
Vậy nhưng, chỉ cần vài tờ báo la toáng lên sau một vụ tai nạn xe tải với nguyên nhân “do xe cũ quá” là một “lệ” mới ra đời, như nói trên.
Vậy là trên đất nước mà hàng triệu người dân còn đang phải dùng đôi quang, đòn gánh trên vai hoặc xe đạp thồ hàng này, mỗi năm khai tử hàng ngàn xe tải cũ, trong đó có chiếc còn rất tốt. Lượng xe bị thanh thải này không ít hơn hàng ngàn tỷ đồng trong mươi năm.
Đó, hình bóng của một định chế tùy tiện và tác hại của nó là như vậy đó.
Trở lại vấn đề thủy điện
Thủy điện có thể gây nên những tác động như nói trên nhưng nó cần chúng ta, những nhà báo, những người hữu trách một tư duy rộng rãi, nghiêm cẩn hơn là giật mình ồ lên một tiếng rồi “cẩu đầu trảm” thủy điện.
Xin đưa ra đây 4 điều để chia sẻ:
1 - Cuối mùa khô vừa qua, tình cảnh cắt điện luân phiên, cắt điện cách nhật, cắt điện bất tử đã kéo cái quạt mo của anh Bờm từ văn học sử trở lại đã cho ta thấm nhục.
Lý do chính được hiểu là do ba nguyên nhân:
1 - Làm tổn thương diện tích rừng ảnh hưởng đến môi sinh.
2 - Quản lý và thi công chậm hoặc chưa đạt các yêu cầu chuyên môn.
3 - Thủy điện gây ảnh hưởng đến lũ lụt theo chiều hướng xấu.
Bài viết này xin chia sẻ một số tư duy trên hai giả định:
- Một là tất cả các lý do nêu trên đều đúng.
- Hai là những nét cần bàn lại trong một số nguyên nhân trên.
Ba mươi sáu nỗi âu lo
Để đào thước khối đất móng đầu tiên cho công trình, chủ đầu tư ít nhất phải có một năm lên thành xuống tỉnh với bao nhiêu phần việc được giải quyết. Bộ hồ sơ tư vấn kỹ thuật cũng bạc tỷ, các quan hệ qua lại kiểu “Việt Nam” từ tấm giấy phép thành lập doanh nghiệp đến các văn bản trình duyệt từ sở tài nguyên - môi trường, sở địa chính, sở xây dựng, sở kế hoạch - đầu tư... cho đến phê duyệt của bộ chủ quản ngành điện phải được thông qua.
Nếu là nhà đầu tư, nhà doanh nghiệp hẳn phải biết rằng, lộ trình để thông qua từng ấy địa chỉ không phải suôn đuột, thẳng thớm như việc từ nhà ra siêu thị mua đồ mà nhiều khi trầy vi tróc vảy, bổ sung bổ túc, chờ đợi và điều chỉnh các “khuyết lệch” phát sinh.
Kế đó là quá trình lo vốn
Một công trình thủy điện nhỏ nhất cũng vài trăm tỷ, lớn tới cả chục ngàn tỷ thường là khả năng chung lưng liên kết của nhiều đối tác hoặc nếu chủ có đủ uy tín để vay mượn thì đó là một gánh nặng từ khối quyền lợi qua lãi suất hoặc các cam kết chia sẻ, trách nhiệm của người vay và người cho vay.
Nếu một công trình 500 tỷ, chủ tự túc được 60%, chỉ phải vay 200 tỷ thôi và được hưởng lãi suất bằng lãi suất vay của ngân hàng, khoảng 1,5% tháng thì cứ mỗi lần mặt trời lặn, doanh nghiệp này phải trả 100 triệu đồng.
Nếu công trình bị đình chỉ 6 tháng, riêng khoản tiền bay theo gió này sẽ là 18 tỷ đồng.
Nếu dự án bị xóa sổ, công trình bị hủy bỏ và khối lượng đã thi công chỉ là 10% thôi cộng các hệ lụy khi phá vỡ các cam kết với các nhà thầu, các nguồn lực hỗ trợ, doanh nghiệp sẽ “đứt” hẳn trên trăm tỷ đồng dễ như bỡn.
Ví dụ trên không phải chuyện giả tưởng, ba mươi sáu ông chủ của ba mươi sáu dự án bị đình hoãn, khi vào cuộc, thực thi đầy đủ các quy định của pháp luật, huy động tối đa các quan hệ và lao tâm khổ tứ trong quá trình thi công, nay ngồi trên đống lửa. Thiệt hại của ba mươi sáu doanh nghiệp này sẽ kéo theo nhiều rắc rối, liên đới với hàng trăm doanh nghiệp khác, hàng chục ngàn lao động trong các doanh nghiệp này nữa.
Ba mươi sáu sai lầm
Mấy đợt lũ lụt vừa qua, xuất hiện một số sai lầm trong việc xả lũ, thậm chí có con đập bị vỡ gây thiệt hại cho một vùng dân sở tại.
Sau đó, như một sự “giật thột” nói theo tiếng Nam bộ, các ngành chức năng tổng rà soát việc đầu tư thủy điện và ba kết luận về những tác hại của thủy điện nêu trên đầu bài được đưa ra.
Sau đó là lệnh hoãn
Nếu những nhận định ấy đúng hết thì tại đây, bộc lộ rất nhiều sai lầm, thiếu sót của một hệ thống hành chính tham gia phê duyệt những dự án này trước ngày hoãn.
Theo quy trình để thực hiện thì các doanh nghiệp làm thủy điện đã đi qua hết các “cửa” từ trung ương lên bộ để có được sự chấp thuận.
Vậy vai trò của những người ký duyệt này ở đâu?
Nếu những người ký duyệt không sai thì hệ thống quy định bao gồm các nguyên tắc đã lạc hậu, vô bổ, vô dụng.
Thực chất là gì?
Chúng ta hãy nhìn lại định chế về “tuổi xe” bên ngành GTVT thì biết.
Xe dưới 9 chỗ không tính niên hạn.
Xe tải dù nửa tấn trở lên chỉ được dùng 23 năm. Bất biết xe này trong 23 năm, vì bất cứ lý do gì có thể chỉ khai thác lối 50% thời gian trôi qua, bất chấp xuất xứ xe là Trung Quốc hay Pháp, Nhật.
Cho nên, điều dễ thấy là một chiếc xe du lịch Peugeot sản xuất từ năm 1953, đã chạy 57 năm, nếu đem bán sắt vụn ở Việt Nam chưa được 5 triệu vẫn có thể chở 5 mạng người đi như thường. Khi đó, chiếc xe tải Toyota của Nhật sản xuất năm 1986, giá trị sử dụng còn trên 60% chỉ dùng chở hàng thì đem bán phế liệu. Nên biết, hệ thống an toàn cho một chiếc xe tải gồm còi, đèn, phanh muốn chấn chỉnh đến mức tin cậy không quá 10 triệu bạc.
Vậy nhưng, chỉ cần vài tờ báo la toáng lên sau một vụ tai nạn xe tải với nguyên nhân “do xe cũ quá” là một “lệ” mới ra đời, như nói trên.
Vậy là trên đất nước mà hàng triệu người dân còn đang phải dùng đôi quang, đòn gánh trên vai hoặc xe đạp thồ hàng này, mỗi năm khai tử hàng ngàn xe tải cũ, trong đó có chiếc còn rất tốt. Lượng xe bị thanh thải này không ít hơn hàng ngàn tỷ đồng trong mươi năm.
Đó, hình bóng của một định chế tùy tiện và tác hại của nó là như vậy đó.
Trở lại vấn đề thủy điện
Thủy điện có thể gây nên những tác động như nói trên nhưng nó cần chúng ta, những nhà báo, những người hữu trách một tư duy rộng rãi, nghiêm cẩn hơn là giật mình ồ lên một tiếng rồi “cẩu đầu trảm” thủy điện.
Xin đưa ra đây 4 điều để chia sẻ:
1 - Cuối mùa khô vừa qua, tình cảnh cắt điện luân phiên, cắt điện cách nhật, cắt điện bất tử đã kéo cái quạt mo của anh Bờm từ văn học sử trở lại đã cho ta thấm nhục.

Dự báo phát triển mỗi năm 17% đã ấn định.
Công nghiệp, dịch vụ phát triển có nghĩa là nhu cầu điện phát triển.
Các dự báo về phát triển điện trong vài năm tới rất yếu, khó thỏa mãn.
Thiên nhiên luôn biến động, thách thức, mới tháng mười âm người ta đã vén quần lội bộ qua sông Hồng là một cảnh báo dữ dằn cho tình hình điện trong những năm tới. Do vậy, thủy điện, cho dù mang đủ ba cái “tội” trên vẫn sẽ là một phương án cần chọn lựa. Được mặt này, thuyên giảm lợi ích mặt kia là chuyện thường tình trong đời sống, trong chính sách phát triển quốc gia.
Hơn 4.000 MW điện từ thủy điện toàn quốc không phải con số nhỏ, trong bài toán năng lượng quốc gia, nếu thiếu nó, điêu đứng ngay.
2 - Những thách thức về an toàn kỹ thuật là có thực, nhưng tại đây, nó cần sự sáng tạo, quả cảm và nhìn nhận khách quan mọi vấn đề để vì cái lợi ích chung. Nếu cao trình N. chỉ vừa đủ vận hành và giữ an toàn ở mức bình thường thì đề nghị nhà đầu tư nâng kết cấu mới lên cao trình tới mức N + X mét để dự phòng. Số tiền dư lên là tiền bảo đảm an ninh quốc gia, nhà nước ghé vai chia sẻ cùng doanh nghiệp là phải đạo.
3 - Nhiều báo chí đưa ra con số để có được một nhà máy thủy điện, “mất” vài trăm hec ta rừng.
Phải nhìn vấn đề này dài rộng hơn. Môi trường chỉ bị hủy hoại khi la làm cạn kiệt dòng nước, nguồn nước. Thủy điện giữ lại nguồn nước. Một phần cho chảy qua đập làm điện, tạo dòng nước cho hạ lưu.

Vài trăm hec ta, thậm chí cả ngàn ha cây xanh nếu còn cũng là để bảo đảm nguồn nước dưới lớp thảm thực vật dưới chân nó. Nếu người ta thay diện tích rừng đó bằng diện tích đồi trọc, hoang hóa thì là phá hoại nhưng thủy điện “thay” bằng một hồ nước nhiều gấp bội phần tích nước tự nhiên đó. Một phần làm điện, một phần thấm xuống chính khu vực đó tạo vùng sinh thái ẩm rất tốt cho thảm thực vật kế cận.
4- Thủy điện làm thay đổi trực tiếp bộ mặt xã hội của vùng hoạt động. Ngoài nguồn thủy sản góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống ra, lượng nước nó cấp cho bà con qua hệ thống thủy nông tạo nên những giá trị rất lớn.
4- Thủy điện làm thay đổi trực tiếp bộ mặt xã hội của vùng hoạt động. Ngoài nguồn thủy sản góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống ra, lượng nước nó cấp cho bà con qua hệ thống thủy nông tạo nên những giá trị rất lớn.
Nguồn nước từ thủy điện Ayun Hạ phục vụ nông nghiệp.
Thủy điện nhỏ Ayun Hạ ở Chư Sê tỉnh Gia Lai hồi sinh cho hàng ngàn hecta ruộng đất khô cằn chỉ làm được một vụ xưa nay trở nên trù phú, làm thay đổi chất lượng cuộc sống hàng chục ngàn dân vùng thiểu số.
5 - Cuối cùng là nhân tố môi trường, có lẽ không mấy ai để ý đến, là đối phó với biến đổi khí hậu thì thủy điện được xem là giải pháp hiệu quả giúp giám phát thải khí carbon dioxide (CO2), do giảm sử dụng nguyên liệu địa khai như dầu hỏa, than đá, để vận hành nhà máy nhiệt điện.

Theo Nghị định thư Kyoto năm 1997 về giảm phát thải khí nhà kính, trong đó chủ yếu là khí CO2, các nước đang phát triển như Việt Nam có thể tận dụng nguồn viện trợ không hoàn lại từ các nước phát triển để xây dựng các nhà máy thủy điện thông qua một phương thức gọi là Cơ chế Phát triển Sạch (CDM).
Dựa vào CDM, doanh nghiệp có thể xây dựng dự án, tính toán công suất phát điện, quy đổi ra lượng CO2 phát thải tiết kiệm được, rồi đưa lên một ủy ban quốc gia và quốc tế về CDM xem xét. Nếu được chấp nhận, doanh nghiệp sẽ được cấp cái gọi là tín dụng carbon và tín dụng đó có thể mua bán được trên thị trường quốc tế. Doanh nghiệp có thể thu hồi vốn từ cách này.
Chẳng hạn, với dự án công nghệ thủy điện mùa mưa nêu trên, nâng công suất phát điện lên thêm 1,2 MW trên suối Nước Oa có thể giúp giảm lượng phát thải là 7.780 tấn CO2/năm hoặc 116.700 tấn CO2 sau 15 năm vận hành.
Điều chỉnh phát triển thủy điện cần một tổng quan ít ra là như vậy. Nếu chúng ta cứ quen điều hành bằng phong cách văn nghệ, cảm tính hoặc duy lý thì vô tình, chúng ta tạo nên hàng loạt những hệ quả ngoài mong muốn.
Chúng ta làm thủy điện hơn năm mươi năm nay, tỷ lệ sự cố rất nhỏ, có những thủy điện nhỏ ở Tây Nguyên đã vận hành qua vài chục kỳ lũ “ngon lành”, không sao, là điều phải xem xét.
Đã đến lúc, việc nâng cao tính trách nhiệm, việc nâng cao chất lượng của các cơ quan điều hành đất nước phải được chú trọng hơn nữa, qua những hành xử như thế này.
