Hoàn cảnh gia đình khó khăn khiến nhiều thanh niên ở vùng biển ngang huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) phải gác bút tìm đường đi xuất khẩu lao động, làm thuê cho các chủ tàu cá trên biển. Trong số ấy, nhiều người đã thực sự đổi đời nhưng cũng có không ít người phải chịu cảnh đói rét, đòn roi...
Giữ lao động bằng “nhà giam”
![]() |
Nguyễn Xuân Tình vẫn còn sợ hãi khi kể về những lần găm mình trên boong tàu câu mực. |
Về xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) tìm các thuyền viên vừa xuất ngoại trở về không khó. Chỉ trong vòng chưa đầy 10 phút, ông Kiều Sinh Bàn, thuộc lực lượng an ninh xóm Đồng Tiến đã dẫn chúng tôi đi một vòng qua nhà của 8 người trong xóm vừa về nước.
Đến nhà Thiều Văn Phụng (SN 1990) nghe anh kể chuyện, không ai cầm được nước mắt. Qua Công ty Triện Mỹ ở thị trấn Kỳ Anh, Phụng làm thủ tục đi xuất khẩu lao động với Công ty Xuất khẩu lao động Vinamoto ở Hà Nội.
3 giờ sáng ngày 6-6-2010, Phụng tạm biệt gia đình đi xuất ngoại với hy vọng đổi đời. Bước chân xuống đất Đài Loan, Phụng được một người đàn ông ra đón, đưa vào một căn nhà xây kín mít, tối om, rồi đóng sầm cửa lại. Trong ngôi nhà đó có hơn 40 người Việt, có người đã ở đây hơn 40 ngày.
Nhắc lại 15 ngày sống bầy đàn ấy cho đến bây giờ, Phụng vẫn còn nổi da gà. Ngôi nhà này được xây ở một khu biệt lập với dân cư, trong một khuôn viên rộng và hoang vắng. Họ chia ra 2 khu tách biệt gồm có khu nhà dành cho lính canh và khu “nhà giam” lao động.
“Nhà giam” được thiết kế nhiều buồng tách biệt cho lao động người Việt, lao động Trung Quốc và Indonesia ở, có nhà vệ sinh khép kín. Còn ăn uống thì hôm được miếng thịt, hôm không, chủ yếu là ăn cá khô. Nếu đói muốn ăn, uống thêm thì bấm chuông, đưa tiền cho lính canh họ bán cho.
Nội quy trong “nhà giam” rất nghiêm ngặt, từ 0 - 9 giờ sáng không được bấm chuông mua gì, nếu ai vi phạm sẽ bị đánh. Sau 15 ngày chờ đợi trong “nhà giam”, ngày được ra ngoài đi làm, Phụng đã say ánh sáng đến sùi bọt mép...
Ba ngày đêm được ngủ 4 tiếng
![]() |
Anh Thiều Sinh Hiếu chỉ ngón tay anh bị thương do ngủ gật chặt nhầm. |
“Không nhớ rõ ngày cụ thể nhưng hôm đó vào khoảng cuối tháng 6-2010, em được họ dẫn ra một hải cảng lớn ở Đài Loan lên tàu Chinchun cùng 45 thuyền viên, trong đó có 6 người Việt đi biển Nhật Bản đánh cá” – đó là tất cả những thông tin Thiều Văn Phụng biết được trong chuyến hành trình 6 tháng lênh đênh trên biển.
Sau 7 ngày tàu đến vùng biển Nhật Bản, Phụng được phân công thả và kéo lưới. Những ngày đầu tiên chưa quen việc nên Phụng chỉ phải trực tàu và vá lưới.
Được khoảng 5 ngày, Phụng chuyển sang làm công việc thả và kéo lưới. Phụng bảo, đứng trên mũi tàu, gió và sóng đánh tả tơi nhưng chưa khổ bằng mất ngủ. Mỗi ngày thuyền viên như em chỉ được ngủ 1 tiếng, thậm chí có đợt 3 ngày đêm làm việc ròng rã nhưng chỉ được ngủ đúng 4 tiếng. Nếu đã báo thức mà còn cố ngủ hay những lúc còng mình kéo lưới quá lâu thấy mỏi có đứng thẳng lên một tý là bị đánh thâm đòn.
Làm việc quá mệt nhọc như thế nhưng ăn uống rất kham khổ, bữa ăn của các thuyền viên chỉ có 2 món, thời gian đầu còn có thịt đông lạnh, sau chỉ có mấy khúc cá và bát canh. Mặc dù cá nhiều, nhưng chủ không cho ăn. Cơm lúc sống lúc nhão nhoẹt vẫn phải cố nuốt, nếu không phải nhịn đói làm thâu ngày thâu đêm.
Cái ăn đã khổ, chịu khát còn khổ hơn, 5 ngày họ mới phát nước uống một lần. Phụng chảy nước mắt kể: “Có hôm em vừa nhận được một chai nước, trong lúc kéo lưới vô tình bị đổ thế là cả tuần đó không có nước ngọt đành phải uống nước biển”.
Còn đối với lao động Nguyễn Xuân Tình (SN 1976) đi làm thuê cho tàu Đông in 5 của Hàn Quốc đi câu mực ở vùng biển Ailen vừa về đầu năm 2010 kể lại: Cuộc sống của thuyền viên rất nguy hiểm mà ăn không được no, đồ mặc cũng rất sơ sài, nhiều lúc tím tái mặt mày phải làm việc cật lực cho toát mồ hôi ra.
Các chủ tàu cũng bóc lột tận cùng sức lao động của các thuyền viên, đặc biệt là thời gian, vì vậy mỗi ngày làm việc của thuyền viên đều từ 18 - 24 tiếng đồng hồ, thậm chí có tàu bắt thuyền viên làm 30 tiếng mới cho ngủ 2 giờ.
So với nhiều thuyền viên khác, anh Thiều Sinh Hiếu (SN 1969) ở xã Kỳ Khang may mắn hơn khi chỉ phải làm công việc mổ cá trên tàu 203 Jonguon Sanup của Hàn Quốc đi đánh cá ở vùng biển Nam Mỹ. Sau chuyến đi biển này, anh Hiếu dành dụm được 40 triệu đồng về quê xây nhà. Tuy nhiên, anh Hiếu bảo, bây giờ nghĩ đến đi tiếp anh vẫn thấy sợ.
Anh kể: “Thuyền viên làm việc thường không có giờ giấc, khi nào cai tàu cho ngủ mới được ngủ, vì vậy mà nhiều lần chặt cá, ngủ gật, tôi chặt cả vào tay mình. Còn vô vàn những cái khổ của đời thuyền viên nhưng cái khổ lớn nhất mà tui không chịu được là nhớ nhà, nhớ vợ con...”.
Bỏ của chạy lấy người
Ăn uống thiếu thốn, lao động đề xuất xin tăng thêm suất cơm liền bị cai tàu đánh và chửi thậm tệ... Nhiều thuyền viên đi làm chưa đầy tháng đã phải bỏ trốn về nếu không muốn bỏ mạng giữa đại dương.Ngày 14-12, được tin anh Nguyễn Tương ở thôn Phú Thượng, xã Kỳ Khang, Kỳ Anh, Hà Tĩnh đi xuất khẩu lao động đánh cá bị nạn mất tích trên chiếc tàu Insung số 1 hôm 13-12 tại Nam Cực, nhiều người dân đã đến chật kín nhà ông bà Nguyễn Tuấn - Nguyễn Thị Lân chia buồn. Trong số đó có rất nhiều người ở trong xã vừa trở về sau những năm tháng lênh đênh trên biển ở xứ người.
Chúng tôi tiếp cận được anh Nguyễn Văn Tới ở thôn Trung Tiến là thuyền viên vừa từ Đài Loan trở về. Từ đề xuất của chúng tôi, anh Tới không ngần ngại cầm điện thoại gọi được hơn chục người bạn của anh vừa trở về trên các tàu cá của Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc).
Thuyền viên Nguyễn Xuân Tới ngày về bệnh tật đầy người |
Theo anh Tới, không chỉ riêng anh mà tất cả những người vừa lao động trên các tàu cá trở về ai cũng bị đánh đập, trong số đó có rất nhiều người phá hợp đồng bỏ về giữa chừng vì không chịu được khổ cực và nguy hiểm.
Tới xòe bàn tay nói: "Lúc mới về, hai tay tôi bị đánh còn sưng húp, bây giờ đã đỡ hơn rồi. Tôi được ký hợp đồng lao động đến năm 2013. Sau 4 tháng lênh đênh trên chiếc tàu Phu Nguyen của Đài Loan đi đánh cá ngừ ở vùng biển Nam Phi, do lao động quá vất vả, tôi đã nhiều lần ngã bệnh nhưng họ bắt uống thuốc và phải làm việc không cho nghỉ. Dần dần sức khỏe của tôi yếu đi, mắt mờ và da vàng, không thể nào bước chân nổi lên boong tàu. Sau một tháng chờ đợi, tàu Phu Nguyen cập bến Cape town, họ đưa em tới một bệnh viện ở Nam Phi khám và có kết luận bị mắc bệnh viêm gan B, phải về nước.
Cựu thuyền viên Nguyễn Xuân Tiến đến bây giờ kể lại vẫn chưa hết hoảng loạn. Trên cổ chân Tiến còn đầy thương tích chưa lành hẳn do bị chủ tàu đánh. Tiến kể, anh phải đứng gác trên boong khi tàu vào đảo tránh bão trên biển Thái Bình Dương, những cột sóng cao vút đánh úp vào thân tàu khiến anh phải buộc dây ngang bụng kẻo rơi xuống biển. Quá sợ hãi nhưng anh cũng không dám xuống tàu vì cai tàu sẽ không tha.
Trước khi đi, dù các thuyền viên đã chuẩn bị tinh thần nhưng không ngờ công việc quá vất vả, căng thẳng. Hôm nào cũng làm quần quật từ 18- 20 tiếng, chỉ được nghỉ ăn, uống, vệ sinh khoảng nửa tiếng lại tiếp tục làm. Vậy mà họ cũng không thoát những trận đòn roi vô cớ của chủ tàu. Anh Phụng, anh Tiến đều phải bỏ trốn, nếu không mạng sống cũng khó thoát.
Gia đình ôm nợỞ quê nghèo Kỳ Anh, làm ra của ăn của để không dễ, vì vậy nhiều người phải chịu khổ đánh đổi mạng sống với ước mơ được xuất ngoại đổi đời. Anh Thiều Sinh Hiếu (SN 1969), ở xã Kỳ Khang tâm sự: "Tầm như tuổi tui ở làng này chưa ai vượt qua kỷ lục 3 lần xuất ngoại đi biển đánh cá ở Hàn Quốc. Nhưng để làm được ăn cũng phải gặp may, nếu gặp chủ tàu khắt khe, đối xử tàn nhẫn với thuyền viên thì coi như chuyến đi đó thất bại. Vì vậy nhiều người cắn răng liều mình mặc cho số phận".
Bà Tô Thị Lẫn ở thôn Đồng Tiến, xã Kỳ Khang đã phải bán con bò giống, đi vay mượn ngân hàng được 50 triệu đồng để đóng chi phí cho 2 đứa con Thiều Văn Quế và Thiều Văn Phụng đi làm việc trên tàu cá Đài Loan với khoản lương mỗi tháng bố mẹ họ nhận được là 3,5 triệu đồng. Với mức lương ít ỏi đó nhưng cả ngày làm việc quần quật mà còn bị đối xử quá tàn nhẫn, 2 anh em phải “bỏ của chạy lấy người”. Họ trở về với bàn tay trắng cùng gánh nặng nợ nần, cuộc sống của gia đình vốn đã khó khăn nay càng thêm khốn quẫn. Để có tiền trả nợ, anh Quế đã phải vào Nam làm thuê.
Hai anh em Nguyễn Xuân Tiến và Nguyễn Xuân Tới ở xã Kỳ Khang cũng vay ngân hàng 40 triệu đồng đi xuất khẩu mong thoát được cảnh nghèo. Tiến làm quần quật gần 5 tháng, tiền lương chủ tàu trả qua công ty XKLĐ Việt Nhật ở VN, khi người nhà ra nhận thì công ty này làm ăn thua lỗ đã phá sản nên gia đình chỉ nhận lại được 20 triệu đồng. Còn Tới phát bệnh và phải về nước trước thời hạn nên tiền chưa lấy lại được. Hàng tháng, cả gia đình phải kiếm tiền trả lãi cho ngân hàng bở hơi tai, còn số tiền vay chưa biết lấy đâu ra để trả.
Không chỉ có hai gia đình nói trên mà hiện nay có rất nhiều gia đình cùng chung cảnh ngộ nợ chồng lên nợ (nợ ngân hàng, nợ vay chữa bệnh). "Được trở về đoàn tụ với gia đình, tui còn may mắn hơn những người bạn vừa gặp nạn hôm 13-12. Thôi anh ạ, còn người còn của lo gì"- Thiều Văn Phụng vừa nói, vừa cười trong nước mắt.
Hữu Anh (Dân Việt)

