Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Hẩm hiu “phận muối” đồng hoang

16/06/2011 19 phút đọc BBT
Không ai có thể hình dung nổi “Những cánh đồng muối trắng tình sâu và nghĩa nặng” của làng muối Hộ Độ (Lộc Hà)
Hẩm hiu “phận muối” đồng hoang

Không ai có thể hình dung nổi “Những cánh đồng muối trắng tình sâu và nghĩa nặng” của làng muối Hộ Độ (Lộc Hà) đã ăn sâu vào trong bài hát “Một khúc tâm tình người Hà Tĩnh” bây giờ lại trở thành những cánh đồng hoang.

Kết tinh thành hạt muối đổ không biết bao nhiêu công sức, mồ hôi, nhưng giá quá bọt bèo dẫn tới diêm dân chẳng thiết tha làm muối và không còn đường nào khác phải rời quê để tìm kế mưu sinh. Gian nan và nghèo đói đã trở thành nét đặc trưng của diêm dân Hộ Độ.

Bóng người lay lắt trên ruộng muối

Tôi liếc mắt nhìn đồng hồ đeo tay đã gần 15 giờ chiều, cữ này cứ như mọi năm tôi sẽ thoả sức chụp no các bức ảnh những ô muối trên cánh đồng Hộ Độ và khoan khoái khi mình được chiêm ngưỡng rừng muối trắng nõn hơn tuyết hiện lên dưới nắng trời. Rồi được chứng kiến những bóng người cầm thêu, cầm bàn trang vun muối sàn sạt trên ô nại. Những đống muối hình chóp núi hể hả được tắm nắng và gió càng giòn thêm vị mặn.

Người làng muối túa ra khắp thôn trên xóm dưới, những bàn chân đi đất to bè quen chịu nóng, chịu xót bước tất bật để giành giật thời gian cho hạt muối được kết tinh cuối ngày. Muối được chất đầy rổ, muối được xếp đầy quang, muối đưa lên xe trâu, xe bò rồi tiếp tục cuộc hành trình tới kho chứa muối... Vào vụ muối, cả xã Hộ Độ ăn cơm muộn, ngủ muộn và lại ra đồng sớm. Ấy vậy bức tranh cũ giờ biến đi đâu mất, khi tôi trở lại Hộ Độ vào giữa đỉnh cao mùa hạ này gặp thôn nào, xóm nào cảnh tượng cũng buồn tẻ, thảng hoặc mới thấy bóng người lay lắt trên ruộng muối.

Tại thôn Tân Quý, khi rẽ vào các con đường nhỏ gặp nhiều chị phụ nữ đang ngồi trong quán cóc bán nước chè xanh thuốc lá, mì tôm, bánh kẹo. Họ cùng chung một suy nghĩ: Ngày cố gắng kiếm vài chục ngàn tiền lãi còn hơn xuống ruộng muối, nhưng xem chừng quán cũng vắng hoe. Phía bên kia chân ruộng tôi thấy hai bà cháu đang lễ mễ xách rổ đi hái những quả đậu chín mà họ gieo từ tháng ba, hôm nay mới thu hoạch, tôi đoán chắc giỏi lắm chỉ được vài cân, nhưng cảnh “nhà bần” nên tháng 6 trời nổi nóng như thiêu như đốt này có bát canh đậu chan cơm họ thấy quý hơn vàng.

Trên diện tích đám đậu của hai bà cháu khoảng một sào trước đây làm muối, bây giờ trỉa đậu còn lại vô số gia đình bỏ ruộng hoang, những loài cỏ thích ứng với nước mặn thi nhau mọc. Cỏ già mọc hoa, cỏ non thoả sức bò ra cả máng chạt, sân phơi. Những giếng muối bị diêm dân bỏ quên, cóc nhái được dịp thi nhau nhảy múa và hát đồng ca. Không ít những ô nề hoang phế lâu ngày không được tu bổ nứt nẻ vết chân chim, từng mảng vôi hàu bị mưa xối trôi nham nhở. Cả đồng muối rộng hơn 2ha này tôi nhìn quanh ngó quắt chỉ duy nhất đếm được hai 2 chủ hộ đang làm muối.

Người phụ nữ đang mải mê văng đất lên nại, khi thấy khách lạ bước vào nơi trú nắng của mình bên chiếc lều dựng tạm lợp bằng lá cọ dày hình chóp nón thì chị ngừng tay trò chuyện với tôi. Chị tên là Trương Thị Hường (năm nay 42 tuổi), chồng chị đang theo cánh thợ xây đi làm ăn xa. Nhà nghèo lại phải cảnh nuôi 4 đứa con, nên chị Hường mới ngần ấy tuổi da đã nhăn nheo, người rộc khô như tóp mỡ. Ba đứa con của chị cứ hết lớp chín là phải nghỉ học để cùng mẹ đi ra nại.

Thằng cu Hới đứa con trai út của chị mới bốn tuổi ngồi thu lu trong túp lều nghe mẹ kể về chuyện khổ của người làm muối cứ nhe răng cười hồn nhiên, còn đứa con gái đầu Trương Thị Dung khăn trùm kín mặt, chỉ lộ rõ đôi mắt tuổi 17 ướt đẫm mồ hôi và nước mắt. Chị Hường cho biết: “Cách đây 3 năm gia đình chị làm 3 sào muối, giá muối hồi ấy bán mỗi yến được 13 ngàn đến 14 ngàn đồng. Vụ muối năm đó gia đình tôi làm được là hơn 7 tấn, tiền bán muối đủ đong gạo ăn cho cả nhà còn dôi dư một ít để sửa chữa lại bức tường”. Chị Hường thở dài rồi rầu rĩ nói: “Muối rẻ như cho mà bán không được nên nhà tui năm ni chỉ làm 2 sào thôi.

Bác tính xem tui mua vôi, mua hàu, làm cỏ và đốt nhiều rơm rạ để lấy tro mới có cái sân để phơi muối. Tiền chi phí đã đi đứt ba triệu rưỡi rồi. Nhưng năm nay một yến muối chỉ mười ngàn thì dân làm sao sống nổi. Biết là lỗ nhưng ra ruộng quen rồi ở nhà nằm cũng chán rồi đâm lắm bệnh tật ra”. Chị Hường không giải thích gì thêm nữa, nhưng tôi vẫn hiểu nội tâm đang dằn vặt chị khi cuộc sống gia đình đang bước vào ngõ cụt. Tôi đội tiếp “cái nắng rất riêng của Hộ Độ” để đến với bóng đôi vợ chồng diêm dân bên kia ruộng muối.

Thật ngạc nhiên người đàn ông này mới 64 tuổi, nhưng trông gần như ông lão 80. Nước da đen đúa, cặp mắt trũng sâu, chiếc cằm dài, má hóp và chân tay toàn thân khẳng khiu, hình như lâu ngày thiếu chất dinh dưỡng. Ông giới thiệu tôi tên là Trương Đình Luận “xóm Tân Quý”, gia đình ông có 4 người, hai đứa con trai ông bỏ học từ lâu để theo chúng bạn lên thành phố làm thuê... Tôi hỏi ông Luận: “Vụ muối năm nay cả thôn có nhiều người làm không hở bác?”.

Ông Luận không cần phân vân, đắn đo nói thẳng “Họ bỏ ruộng lâu rồi chú ạ, vợ chồng tôi không có sức bóc đất, chở đá thuê nên đành phải bám vào ruộng muối thôi. Năm ni gia đình tui định làm 4 sào muối, hai sào cũ mới dọn dẹp sạch sẽ được tuần nay, còn hai sào mới tui mượn ruộng bà Nhương làm thêm vì ô nại đang tốt không phải sửa thêm chi nữa”. Bà vợ ông Luận bảo: “Cả cánh đồng ở Tân Quý hôm nay c

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu