Kỳ cuối: Với tay ngàn dặm
Mấy tối nay, kênh HTV9 chiếu bộ phim tài liệu Đi giữa kẻ thù về ông Tư Cang, đại tá anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Tàu, cụm trưởng cụm điệp báo H63 lừng lẫy. Trong căn nhà yên tĩnh ở quận Bình Thạnh, TP.HCM, thím Sáu Ảnh (bà Trần Ngọc Ảnh), vợ ông, ngồi thắc thỏm bên tivi, rơm rớm nước mắt theo dõi từng khung hình.
Ông đang về quê ở Bà Rịa - Vũng Tàu, lịch giao lưu kín đặc vẫn không quên gọi điện về: “Bà mở tivi coi nha, người thương”.
| Vợ chồng ông Tư Cang và kỷ vật thời chiến - Ảnh: P.VŨ |
Ông bà đã âu yếm gọi nhau là “người thương” như vậy từ ngày là một cặp thanh mai trúc mã tuổi 17, cho đến hôm nay đã ngoài 80. Ấy thế nhưng đã có những năm dài khoảng cách giữa họ dù chỉ bằng một với tay nhưng lại là ngàn dặm, là những ngày tình yêu phải hi sinh cho nhiệm vụ, “người thương” đứng đó mà phải ngoảnh mặt.
Chiếc đồng hồ kỷ vật
“18 tuổi, chưa xong trung học ở Petrus Ký, Pháp lấy mất trường, má tui kêu về quê lấy vợ. Tui về, đám cưới không biết mặt cô dâu. Vô ở chung nhà ba ngày hai đứa không dám nắm tay. Vậy mà mấy tháng sau thì thấy thương lung” - ông Tư Cang cười khà mỗi khi kể câu chuyện ấy. Nhưng đoạn sau của câu chuyện thì ông không cười sảng khoái như vậy nữa.
Khi “thương lung” rồi thì bắt đầu những ngày Nam bộ kháng chiến. Làm trai phải lấy việc nước làm trọng, chàng trai đưa vợ về nhà cha mẹ ruột, vác cây gậy tầm vông vào chiến khu. Cô gái nuốt nước mắt đi học nghề, đi làm để dưỡng nuôi cái bào thai vừa tượng hình trong bụng. Họ không biết được cuộc chia ly sẽ dài đến thế.
Suốt tám năm Tư Cang không thấy mặt vợ, không biết mặt con. Ngày đình chiến, cả hai đi tìm nhau mà không gặp. Được lệnh tập kết ra Bắc, đến trước lúc lên tàu Tư Cang mới nhận được một tấm áo len vợ đan, một tấm ảnh con gái đã lên 7 tuổi và mấy dòng thư viết vội.
“Một lần nữa đứt ruột” - ông Tư Cang chỉ nói vậy về cái ngày chiếc tàu rời xa những rặng dừa miền Nam. Linh cảm về cái hẹn hai năm sẽ không thành, hình ảnh người vợ trẻ với những đêm dài vò võ cùng câu Dạ cổ hoài lang khắc sâu vào tim ông những ngày sống ở đất Bắc.
Phải trở về miền Nam, Tư Cang ra lệnh cho mình như vậy và lao vào học tập, rèn luyện. Anh giỏi văn hóa, ngoại ngữ, nổi tiếng toàn quân với tài bắn súng hai tay như một bách phát bách trúng. Anh chứng minh mình có tài thao lược, tổ chức, thâm nhập. Sau sáu năm dài, Tư Cang đã đạt được điều mình mong ước: có lệnh cho quay về miền Nam.
Suốt những năm ấy cô Sáu Ảnh lặng lẽ đi làm, nuôi con, chăm cha mẹ. Cô từ khước mọi mối quan hệ, sống giữa đất Sài Gòn lòng cứ xót xa nghĩ đến người chồng đang theo cách mạng “ở rừng, ở núi, không áo mặc, cơm ăn” như lời chính quyền Sài Gòn tuyên truyền. Ngày qua, tháng qua, năm qua, khi cô đã tuyệt vọng thì bỗng có người tìm đến mang theo mấy chữ của ông và bảo cô xin nghỉ làm một ngày để vào “cứ” gặp mặt.
Tưởng như mơ, cô riu ríu làm theo mọi sự sắp đặt. Và ở Củ Chi cô đã gặp lại được chồng, giờ là một đại úy tình báo - biệt động, vẫn cao lớn, đẹp trai như ngày nào và “lại có cả đồng hồ vàng tặng vợ nữa”.
Ấy là chiếc đồng hồ Movado của Thụy Sĩ, cái đồng hồ duy nhất trong tủ kính của cửa hàng bách hóa tổng hợp Hà Nội mà ông Tư Cang đã dốc hết tiền lương dành dụm bao năm mua rồi cất vào đáy balô vượt Trường Sơn. “Tôi cũng phải có quà cho vợ để dân Sài Gòn thấy Việt cộng cũng ngon chớ” - ông Tư Cang lại cười khà. Bà Sáu Ảnh đến hôm nay vẫn còn nhớ: “Ừ, lấy chồng Việt cộng coi vậy mà cũng ngon”.
“Chỉ cần thấy cái lưng của người thương...”
Lần vào cứ đó là lần duy nhất hai người được gần nhau trong vài giờ. Họ được nói vài lời âu yếm pha lẫn trách cứ, được tự tay chèo xuồng bên nhau dọc bờ sông thơ mộng, được chụp cùng nhau một tấm ảnh duy nhất. Thế rồi cô Sáu Ảnh được ông hướng dẫn thành một giao thông viên trong mạng lưới thông tin mà ông thiết lập quanh Sài Gòn.
Cô hăm hở thực hiện với mong ước được ở bên chồng, không ngần ngại đưa cả Nhồng (tên thường gọi của chị Trần Thị Giang), cô con gái rượu, cùng vào cuộc. Mãi sau này qua nhiều hoạt động, cô mới nhận thức được hoạt động tình báo là những khoảng cách gần như trong tầm tay nhưng lại xa biền biệt.
Là những lần đưa thư cho chồng mà cô phải tập ánh mắt nhìn của một người không quen. Là những lần nhìn thấy chồng tay trong tay với một cô thiếu nữ xinh tươi khác mà phải giấu đi nét mặt da diết. Là những lần hiếm hoi được gặp ông một mình, cô cũng phải ghìm mình lại để không chạy ào đến...
Cứ như thế thêm 10 năm nữa. Chiến tranh cứ vô tình chất chồng thời gian vào tình chồng nghĩa vợ. Ông Tư Cang xoa dịu những nỗi vò xé ấy bằng những màn lãng mạn nho nhỏ. Giữa những sắp xếp tinh vi cho tổ chức điệp báo, đảm bảo thông tin thật nhanh, thật an toàn cho những tin tức mà “điệp viên hoàn hảo” Phạm Xuân Ẩn lấy được. Giữa những khoảnh khắc sống chết cách nhau một sợi tóc, thỉnh thoảng ông tìm cho riêng mình một khoảng trống.
Những ngày ấy, bà Sáu Ảnh nhận được tin nhắn “đến sở thú”. Nghe vậy là tim bà đập rộn lên. Bà đón chuyến xe buýt sớm hơn giờ đi làm một chút, đến sở thú thì xuống. Và kia, ông đang lơ đãng hút thuốc bên một đầu ghế đá hay dạo bộ dưới hàng cây, đang chăm chú bên một chuồng thú. Họ sẽ như tình cờ cùng đứng một chỗ trong vài phút rồi lại đi. Thế thôi. “Chỉ cần nhìn thấy cái lưng của người thương là đủ rồi” - ông bảo thế.
Cuối năm 1973 Tư Cang lại được lệnh ra Bắc. Ông đi mà lòng dạ như cào. Lại bao lâu nữa đây? Ra Hà Nội học khóa đào tạo chính ủy, ông liên tục đề đạt nguyện vọng trở vào Nam. Lần này chỉ một năm sau là Tư Cang toại nguyện. Ông được vượt Trường Sơn một lần nữa, được phân làm chính ủy lữ đoàn 316 đặc công biệt động miền - B2, chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh. Những thôi thúc của cái chung lẫn cái riêng như chắp cánh cho Tư Cang vào chiến dịch, hoàn thành nhiệm vụ và bay thẳng tới ngày giải phóng.
30-4-1975, mãi đến tận đêm khuya Tư Cang mới đi kiểm tra xong các điểm đóng quân. Ông lái chiếc xe jeep về Thị Nghè, vào thẳng khu cư xá ngân hàng trước sự ngạc nhiên của mấy cô chiến sĩ trẻ đi cùng. Đến cửa, ông hồi hộp cất tiếng gọi lần đầu tiên “Nhồng ơi”, cái tên bà ngoại đã đặt cho con gái ông từ những ngày xưa. Cả nhà quýnh quáng mở cửa và những “người thương” được ôm chầm lấy nhau tự do, thỏa thuê một lần cho gần 30 năm.
“Khi ra đi vợ mới có mang mấy tháng, khi trở về con gái 28 tuổi, lại đã sinh một cháu ngoại gái 3 tuổi nữa” - ông Tư Cang viết sau tấm ảnh chụp trong đêm hòa bình đầu tiên. Sự lâu dài của cuộc chiến tranh hiện diện trong nhà ông bằng xương bằng thịt như thế. Và nó càng hun đúc cho hạnh phúc giữa những “người thương” cứ vậy mà cháy lên.
PHẠM VŨ (Tuổi trẻ)