Trên tất cả những hòn đá nhô lên ấy đều có những hình khắc ngang dọc, trải từ mỏm tảng đá xuống đến chân. Thậm chí, trong hốc của một số tảng đá cũng có những hình khắc.
Sau khi trao đổi với ông Phạm Văn Đăng, Giám đốc Vườn Quốc gia Hoàng Liên và được Lãnh đạo Vườn Quốc gia cấp phép vào rừng, chúng tôi bắt đầu lên đường.
Từ 5h sáng, khi mây mù còn bao phủ khắp nơi, mây đặc quánh tưởng như có thể vồ lấy mà xé ra được, tôi và “người rừng” Trần Ngọc Lâm đã rời Trạm Tôn, đỉnh núi mà người Pháp từng dựng trạm đồn trú từ hơn trăm năm trước. Giữa mùa đông, trên độ cao 2.022m, cái lạnh âm độ như xẻo da cắt thịt.
Vạch bụi cỏ ven đường Quốc lộ đi Lai Châu, chúng tôi bắt đầu thả dốc, rồi lại lên dốc. Có những dốc đá phải móc tay vào kẽ đá, bám vào dây leo mà đi.
Theo ông Lâm, 2-3 năm trước, nơi đây toàn rừng già rậm rạp, không có dấu chân người, cũng không có con đường mòn nào cả. Con đường nhỏ xíu, chỉ vừa bước chân người này là do đám lâm tặc vác gỗ, kéo gỗ qua lại nhiều mà thành.

Cánh rừng bạt ngàn pơ-mu chỉ còn lại những cái gốc.
Ông Lâm xót xa chỉ cho tôi xem những cánh rừng bị triệt hạ dọc các thung lũng, khe suối. Đồng bào Mông đã phá nát rừng già để trồng thảo quả. Theo ông Lâm, thảo quả là thứ sát sinh rừng mạnh nhất. Rễ loài cây này tiết ra chất nhựa, khiến những thân cây cổ thụ ngàn năm cũng phải chết khô.
Cuốc bộ chừng 3 giờ đồng hồ thì đến một sườn núi đá, mà theo ông Lâm, vốn là một cánh rừng pơ-mu khổng lồ. Pơ-mu là một loài cây kỳ lạ, chúng mọc từ kẽ đá, rễ trùm trên mỏm đá, luồn vào khe núi mà lên. Chúng sống hiên ngang trên đá cả ngàn năm tuổi.
Ông Lâm kể rằng, chỉ 2-3 năm trước, cánh rừng này còn bạt ngàn pơ-mu với những thân cây mấy người ôm không xuể. Nhưng giờ đây, thứ còn lại chỉ là những gốc cây trơ trụi, thậm chí cả gốc cũng bị đồng bào đốt lấy than bán về xuôi.

"Người rừng" Trần Ngọc Lâm là người đầu tiên phát hiện ra bãi đá này.
Chúng tôi cứ cặm cụi cuốc bộ, xuyên qua những rặng núi với những hệ sinh thái khác nhau, những vạt rừng sơn tra, những sườn núi rực đỏ hoa anh đào, gốc to người ôm không xuể. Khi mặt trời ngấp nghé đỉnh núi thì một khe núi hiện ra.
Đứng dưới thung lũng, ông Lâm chỉ tay lên khe núi ấy và bảo: “Bãi đá có hình khắc ở trên đó đấy!”. Giường như bao nhiêu mệt nhọc đều tiêu tan, tôi chạy một mạch lên bãi đá.
Đúng như lời ông Lâm, con đường mòn kéo gỗ chạy cắt ngang bãi đá cổ. Những vết chân trâu, những vết mài của hàng vạn súc gỗ lớn vẫn còn mới nguyên. Một dải đá cổ có hình khắc đã bị mài mòn.

Bãi đá cổ có hình khắc là một khối đá khổng lồ gắn liền với núi.
Tôi nhẹ nhàng bóc lớp rêu bám trên mặt những tảng đá, ông Lâm dùng con dao đi rừng phát những sợi dây leo trùm kín. Một bãi đá cổ với những hình khắc vẫn còn khá nguyên vẹn hiện ra trước mắt.
Theo ông Lâm, người có hơn 10 năm sống trong hang đá, đã đi hết đại ngàn Hoàng Liên, rất hiểu về rừng rú, thì toàn bộ bãi đá là một khối núi liền, thuộc loại đá cổ được thành tạo từ hàng trăm triệu năm trước. Trên khối đá liền giữa khe núi ấy, có những mỏm đá nhô lên như những hòn đá riêng biệt.
Trên tất cả những hòn đá nhô lên ấy đều có những hình khắc ngang dọc, trải từ mỏm tảng đá xuống đến chân. Thậm chí, trong hốc của một số tảng đá cũng có những hình khắc.




Hình khắc có ở khắp mọi nơi.
Sau khi chụp ảnh, quan sát tỉ mẩn những hình khắc, tôi đặt câu hỏi với ông Trần Ngọc Lâm: “Liệu có phải là hình khắc của những người đi rừng thời gian gần đây?”. Ông Lâm khẳng định không thể có chuyện người dân bỏ cả ngày cuốc bộ vào đây rồi rỗi rãi ngồi khắc lên những tảng đá này.
Ông Trần Ngọc Lâm bỏ thành phố Lào Cai, lên đỉnh Fasipan sống từ năm 1998. Ông đã có nhiều năm trời sống cùng đồng bào Mông, đi rừng cùng người Mông và ông hiểu rất kỹ người Mông.
Đồng bào Mông sống phụ thuộc vào rừng nên mỗi khi đi rừng họ luôn đeo con dao bên mình. Những con dao của đồng bào Mông đều do họ tự rèn lấy, rất công phu và tốt. Họ mang theo dao vào rừng vừa là để bảo vệ mình khỏi thú dữ, vừa để phát rừng làm đường đi.

Người đàn ông Mông này khẳng định không có ai dùng dao chém vào đá cả.
Đồng bào Mông coi con dao như tính mạng, luôn đeo bên mình và luôn giữ gìn rất cẩn thận. Họ không bao giờ dùng dao đào đất, chứ đừng nói đến chuyện chém vào đá. Do vậy, ông Lâm bác bỏ giả thuyết những hình khắc này do người Mông trong lúc đi rừng, rỗi rãi, đã dùng dao khắc thành những hình thù trên những tảng đá này.
Cũng theo ông Lâm, những tảng đá này đều là đá gốc, rất cứng, do đó, để dùng dao chém vào đá thành hình khắc, thì để có một vết khắc, sẽ phải tốn rất nhiều dao. Do đó, chẳng có lý do gì để người Mông đi bộ cả ngày vào rừng, rồi chém vào những tảng đá này cho hỏng dao.
Ngoài ra, theo ông Lâm, cả dải rừng quanh khu vực có hình khắc cổ này từ nhiều năm nay không hề có dấu chân người vì rất xa xôi, hiểm trở. Suốt bao năm đi hái thuốc qua khu rừng này, ông chỉ gặp gấu, chồn, cầy, cáo… chứ tuyệt nhiên không gặp người.
Chỉ từ 2-3 năm gần đây, khi người Mông phát hiện trong khu rừng trên độ cao 2.200m này có nhiều pơ-mu, họ liền vào đốn hạ, vận chuyển gỗ ra, thì khu rừng mới thực sự có dấu chân người.

Khi chúng tôi đang loay hoay với những giả thiết khác nhau, bỗng có một người đàn ông Mông đi qua. Chúng tôi chỉ vào những hòn đá có hình khắc hỏi: “Người Mông có dùng dao khắc vào đá như thế này không?”. Người đàn ông này liền bảo: “Ồ, không đâu, có cho tiền ta cũng không làm vậy đâu, hỏng dao của ta mất”. 
Từ những phân tích trên đây, có thể tin rằng, những hình khắc trên bãi đá này là hình khắc cổ. Còn niên đại bao nhiêu năm, thì phải có sự nghiên cứu của các nhà khoa học cùng các phương pháp, máy móc hiện đại.
Còn tiếp…
Phạm Ngọc Dương (VTC News)
Những hình khắc trên bãi đá có tuổi bao nhiêu năm? Thông điệp là gì? Nhà khoa học nói gì về những hình khắc trên bãi đá chưa từng được biết đến này?
Kỳ cuối: Bí ẩn hình khắc trên bãi đá trong đại ngàn Hoàng Liên Sơn