| 11 giờ 50 ngày 18.11.2010, tổ máy số 1 – nhà máy thuỷ điện Sơn La chính thức khởi động chạy không tải. Đây là bước quyết định quan trọng trong việc phát điện hoà lưới quốc gia vào cuối tháng 11.2010 của tổ máy đầu tiên thuộc công trình thuỷ điện chiến lược quan trọng này. Trong ảnh: đông đảo lãnh đạo, đại biểu, cán bộ, kỹ sư và công nhân xây dựng nhà máy thuỷ điện Sơn La chứng kiến thời điểm chạy không tải tổ máy số 1. Ảnh: TTXVN |
Sản lượng tăng trên 15%
Theo một nguồn tin từ bộ Công thương, dự kiến trong năm 2011 sản lượng điện sáu tháng mùa khô ở mức 56,2 tỉ kWh (tăng 18,5% so với năm 2010), sản lượng điện sáu tháng mùa mưa ở mức 61,4 tỉ kWh (tăng gần 15% so với năm 2010). Sản lượng này, dù tăng cao, nhưng được dự báo khó đáp ứng đủ nhu cầu, tình trạng cắt điện luân phiên trong những giờ cao điểm của các tháng mùa khô, nhất là các tháng 4, 5, 6, là khó tránh khỏi.
Dự kiến, các nguồn điện mới bổ sung thêm vào cơ cấu nguồn điện của năm 2011 xấp xỉ 4.580MW. (Theo kế hoạch, chỉ riêng trong mùa khô, tám nhà máy điện hoặc các tổ máy điện mới như tổ máy 2 thuỷ điện Sơn La, tổ máy 1 và 2 của thuỷ điện An Khê Kanak, tổ máy 1 và 2 nhà máy nhiệt điện Hải Phòng, các nhà máy: nhiệt điện Cẩm Phả 2, nhiệt điện Nhơn Trạch 2… sẽ đưa vào vận hành). Nếu cộng cả nguồn điện mới này, tổng công suất toàn hệ thống điện cả năm 2011 ước đạt trên 25.200MW. Sản lượng điện vì thế sẽ khá cao, khoảng 55 – 56 tỉ kWh, tăng trên 18,5% so với năm 2010.
Thiếu hơn 6,5% và những nguyên nhân quá cũ
Với sản lượng điện dự kiến sẽ đạt được trong sáu tháng mùa khô năm 2011, theo phân tích, khoảng 43,5 tỉ kWh do các nhà máy nhiệt điện cung cấp, còn lại 12,7 tỉ kWh là của các nhà máy thuỷ điện. Giới chuyên môn lo ngại việc thiếu hụt sản lượng từ các nhà máy thuỷ điện khi việc vận hành các nhà máy thuỷ điện phụ thuộc rất lớn vào lưu lượng nước. Các nhà máy nhiệt điện chạy than, khí cũng không an toàn hơn khi rất hay có trục trặc do bị ngừng cung cấp khí để sửa chữa, bảo dưỡng; chưa kể các nhà máy nhiệt điện mới chạy bằng than cũng thường gặp nhiều trục trặc trong thời gian đầu vận hành.
Đã có những tính toán của các nhà chuyên môn cho thấy, trong sáu tháng mùa khô 2011, hệ thống điện có nhiều khả năng thiếu trên 2 tỉ kWh. Dù con số này chỉ chiếm trên 3% nhu cầu nhưng vì sự thiếu hụt ấy mà khó tránh khỏi việc cắt điện ở nhiều nơi. Và nếu nước về các hồ ít hơn, bằng tần suất nước về năm 2010, thì mùa khô 2011 sản lượng thiếu hụt toàn hệ thống sẽ lên tới trên 3,5 tỉ kWh, nghĩa là thiếu trên 6,5% so với nhu cầu. Nếu các tháng cao điểm mùa khô năm 2010, sản lượng điện bị cắt giảm là 1,4 tỉ kWh thì với con số 3,5 tỉ kWh điện thiếu hụt của mùa khô 2011, lượng cắt giảm cả về công suất và điện năng chắc chắn sẽ nặng nề hơn rất nhiều so với năm 2010.
Ngoài ra, cũng cần nhắc đến tình trạng trục trặc thường xuyên hoặc đến thời hạn bảo dưỡng ở các nhà máy điện, nhất là các nhà máy nhiệt điện mới đi vào vận hành. Do vậy, khả năng thiếu hụt thêm một phần sản lượng điện nữa từ khả năng trên cũng cần được tính đến.
Khắc phục tình trạng thiếu điện không thể chỉ trong một, hai năm vì đầu tư một nhà máy điện, theo tính toán và thực tế triển khai các dự án, cần ít nhất ba, bốn năm. Do đó, việc thiếu điện trong năm 2011 và cả năm 2012, đúng là không còn cách nào tránh được! Vấn đề khiến nhiều người lo lắng hơn là cơn khủng hoảng thiếu điện có thể sẽ không chỉ dừng lại ở một, hai năm tới mà kéo dài và thậm chí, nặng nề hơn hiện tại khi mà ở thời điểm này, việc đầu tư cho các công trình nguồn điện mới chưa thấy có sự gia tăng đột biến, trừ việc chuẩn bị đầu tư cho hai công trình nhà máy nhiệt điện hạt nhân tại Ninh Thuận.
Mạnh Quân (SGTT)