Trao quyền năng cho khán giả
Để tránh những hệ luỵ từ quá trình tiêu dùng một sản phẩm văn hoá nhập khẩu, đã đến lúc nên nhìn nhận một cách thấu đáo sự tương thích của những cỗ máy “sản xuất thần tượng” trong điều kiện công nghệ biểu diễn cũng như bối cảnh văn hoá Việt Nam.
| Các bạn trẻ chờ đăng ký thi hát – đi tìm cơ hội trở thành sao. Ảnh: Khải Trí |
Với Sao Mai Điểm hẹn mùa đầu tiên năm 2004, nhạc Việt lần đầu tiên chứng kiến sự ra đời của một cuộc tìm kiếm tài năng ca hát dựa trên hai hệ thống đánh giá: một của khán giả, một của ban giám khảo. Năm 2006, ngành truyền hình nhập khẩu cuộc thi tìm thần tượng của nước Mỹ để làm thành phiên bản Vietnam Idol với nguyên tắc người được nhiều khán giả bình chọn nhất sẽ chiến thắng. Cách thức đưa khán giả tham gia tạo ra kết quả chính là công cụ hữu hiệu giúp các cuộc thi này sản sinh cho âm nhạc danh sách những người nổi tiếng.
“Chiếc áo” người nổi tiếng
Nhìn chung, các cuộc thi hát đều cố gắng khoác cho các thí sinh “chiếc áo” người nổi tiếng bằng cách thúc đẩy các phương tiện truyền thông đại chúng liên tục thông tin về họ. Trong suốt thời gian diễn ra cuộc thi, họ nghiễm nhiên được khán giả xem là người nổi tiếng. Bên cạnh đó, các cuộc thi thường đưa ra hàng loạt những câu chuyện cảm động mang tính vượt khó của thí sinh. Đây là những yếu tố ngoài sân khấu giúp cuộc thi tạo ra “phần hồn” sống động. Dù còn nhạt nhoà ở phiên bản Việt Nam nhưng công thức này đã được áp dụng thành công ở phiên bản gốc ở Mỹ. Chẳng hạn như Carrie Underwood – quán quân American Idol năm 2005 được giới thiệu như “cô gái nông dân làm chuyện lớn” bằng rất nhiều hình ảnh cô đang giúp cha điều hành trang trại. Hay như Temptress Brown, một thí sinh khác với câu chuyện gây cảm động cho khán giả, rằng cô đến với cuộc thi là để làm vui lòng người mẹ đang nằm trên giường bệnh.
Khi thần tượng là sản phẩm của công nghệ
Khi mỗi cuộc thi khép lại, cũng là lúc một hệ thống khác bắt đầu khởi động, với sự tham gia của các hãng thu âm, hãng phát hành, nhà sản xuất chương trình truyền hình, nhà tổ chức lưu diễn… để khai thác tên tuổi vừa được tạo ra. Tất cả đặt trong mục tiêu đưa họ trở thành người nổi tiếng bậc nhất. Tuy nhiên, mặt bằng phát triển của nền công nghiệp biểu diễn của Việt Nam hiện chưa thể hình thành một hệ thống khép kín như trên để tiếp nhận các tên tuổi do ngành truyền hình tạo ra. “Và chúng ta đã hụt hơi! Như anh nhà nghèo không có tiền đổ xăng cho chiếc Lexus. Nói cách khác, không phải các cuộc chơi đấy không hoàn thành sứ mạng của mình, mà chính chúng ta chưa đủ nguồn nhiên liệu cho các cỗ máy ấy phát huy tác dụng”, nhạc sĩ Võ Thiện Thanh nhận xét.
Ở một góc độ khác, sự thành công của các cuộc thi tìm kiếm tài năng bộc lộ rất nhiều khía cạnh của văn hoá đại chúng đương đại. Giống như những người hùng, người chiến thắng cuộc đua hiện lên trong mắt công chúng như một huyền thoại đầy tài năng, làm việc chăm chỉ, bền bỉ, và một chút may mắn, nhìn chung là tất cả những gì đứng giữa một con người bình thường và một ngôi sao. Nhưng cũng lại khác với người hùng, họ được tạo ra như một sản phẩm của công nghệ, dùng cho việc khai thác thương mại. Đề cập đến hiện tượng này trong cuốn American Idolatry: Celebrity, Commodity and Reality Television (tạm dịch: Người Mỹ sùng bái thần tượng: Người nổi tiếng, sản phẩm và truyền hình thực tế), tác giả Christopher E. Bell nhận định: “Sự nổi tiếng của họ không hoàn toàn đến từ những thành tựu trong hoạt động chuyên môn, cũng không hoàn toàn là sản phẩm do giới truyền thông tạo ra, mà là một hình thức lai ghép giữa các yếu tố trên”.
Mặt khác, việc khán giả là người có quyền chọn ai xứng đáng trở thành thần tượng bằng cách cầm điện thoại lên nhắn tin về tổng đài, là chìa khoá quan trọng giúp các cuộc thi thành công. Trong bối cảnh của chủ nghĩa tiêu thụ đang lớn mạnh, các cuộc thi giúp người xem tạo dựng được một thần tượng theo đúng khẩu vị của chính họ. Quan trọng hơn, nó được hợp thức hoá bởi số đông. Và hẹn mùa sau, cuộc thi lại đem đến cho công chúng những con người vô danh, “thô ráp” để cùng gọt giũa thành… thần tượng.
Kiến Minh (SGTT)