Thấm thoắt đã lại đến mùa trám. Thường cứ vào cuối tháng 5 âm, cũng chỉ loanh quanh ở mấy cái chợ cổ của Hà Nội thôi là có hàng bán trám. Chợ Hàng Bè, chợ Hàng Da chẳng hạn. Các loại chợ cóc, chợ xanh tạm bợ chuyên phục vụ khách dễ tính, tuyệt nhiên không thấy bán trám bao giờ. Tháng 5, cơm mới gạo mùa ăn với trám kho lẫn cá diếc. Thành thị hơn một chút thì trám nhồi thịt hấp.
Cách đây ba năm, cũng vào cữ này trong một lần bôn ba đến Mỹ làm ăn, trước khi về lại Việt Nam, tôi ghé San Jose thăm người bạn mới quen. Đây là một gia đình có đầy đủ cả ba thế hệ. Bà ngoại của cô bạn tôi là con gái Kinh Bắc, vào Nam năm 1954, sau năm 1975 sang định cư tại Mỹ. Cô ta sinh ở Việt Nam, cùng bố mẹ rời Việt Nam khi mới có vài tuổi.
Lần đầu tiên được lọt hẳn vào bên trong một gia đình người Việt ở Mỹ lại có đủ cả đại diện của ba thế hệ. Tôi chăm chú quan sát, chăm chú nghe, thỉnh thoảng chỉ nói một vài câu bắt buộc có tính chất xã giao hoặc hỏi han theo kiểu gợi mở. Tôi vốn không phải người tò mò, nhưng quả thực hoạ hoằn mới có dịp thế này để chứng kiến sự kiên nhẫn trong việc gìn giữ văn hoá Việt của những người xa xứ. Điều này rất khó nhận thấy nếu như chỉ đi lướt qua.
Đang ngồi uống trà với tôi, bỗng nhìn thấy mấy đứa cháu ở vườn bước vào, tay cầm cuốc xẻng. Bà đứng dậy đi về phía bọn chúng nhắc nhở, không phải vì bà sợ bẩn đâu nhưng đừng vác cuốc xẻng vào nhà các cháu ạ. Có kiêng có lành.
Đối với một bà cụ ngoài 70 tuổi, đã mấy chục năm xa tổ quốc, có quá nhiều điều mới để nhớ và cũng nhiều quá những thứ để quên nhưng tại sao bà lại không dễ quên cả những tục lệ như thế? Tôi nghĩ bụng, ngay ở trong nước, chắc gì bọn trẻ đã biết rõ về những điều đó. Không chỉ là kiêng khem, lành dữ mà nó ẩn chứa trong đó cả văn hoá thì phải.
Nghịch lý ở chỗ những cái ở quanh mình, nhiều và hàng ngày gặp gỡ thì lại ít được lưu tâm, dễ bị coi thường, mau quên và mất đi. Chỉ có ở xa quê hương, bao xung quanh là những điều khác mình thì cái ý thức tự vệ mới trỗi dậy như một thứ phản xạ. Cái ý thức bảo tồn và lưu giữ văn hoá gốc mới càng trở nên mạnh mẽ.
Tôi lặng lẽ ngồi nghe bà trò chuyện với lũ trẻ. Chẳng chuyện gì ra chuyện gì, những câu chuyện rất vu vơ, không đầu không cuối. Hình như bà chỉ muốn, sau một ngày ở trường toàn dùng tiếng Mỹ, tối về nhà chúng được nghe, được nói tiếng Việt. Thế thôi. Đôi khi bọn trẻ theo thói quen buột miệng một câu tiếng Mỹ. Bà quay sang tôi, thở dài rồi thều thào, mình cố được đến đâu hay đến đó còn thì phải để chúng nó nhập gia tuỳ tục, đáo giang tuỳ khúc chứ biết làm sao? Đúng là bản thân câu chuyện chẳng có nội dung gì cụ thể nhưng tôi thấy tiếng Việt của bà rất hay. Một thứ tiếng Việt cũ, thuần khiết. Vẫn biết ngôn ngữ vốn biến động nhưng nếu nó cứ thay đổi đến mức như hiện nay thì có nên không? Nào có gì thần bí đâu, tiếng Việt của bà hấp dẫn hoá ra vì nó đứng im một chỗ, nó dừng lại ở đúng cái thời điểm bà rời xa tổ quốc.
Nói thì nói vậy chứ tiếng Việt của bà hấp dẫn vì nó có hình ảnh. Người nói thì tự nhiên nói như vậy, chẳng cần cố gắng gì nhưng người nghe, chính xác là người biết nghe thì sẽ thấy hay, thấy tiếng Việt hay. Chỉ tiếc những người nói tiếng Việt hay giờ hiếm quá, những người trẻ nói tiếng Việt tẻ quá, nhạt quá, chỉ thuần là thông tin, thông báo mà lại thiếu đẹp. Có ai ngờ rằng để được nghe ai đó nói hay tiếng Việt lại khó thế, dường như điều này đang ngày càng trở nên xa xỉ.
Bà rất giỏi trong cách dùng hình ảnh, để so sánh (tất nhiên không chỉ là so sánh mà còn có tác dụng khác) và thêm một điều nữa cuốn hút người nghe là cách diễn đạt, cách kể của bà rất chủ quan, đúng sai không quan trọng lắm. Đẹp là chủ quan, là cá nhân, là riêng, là văn. Nếu chỉ đúng, chỉ khách quan thì đó là công văn, là báo chí, là xã luận.
Ví dụ: bà kể với mấy người con trong bữa cơm (các anh chị này đều đã Mỹ hoá, tiếng Mỹ thạo hơn tiếng Việt) về một người quen của bà giỏi buôn giỏi bán. Bà bảo, đồng tiền trong túi cô ấy lúc nào cũng quay như bánh xe. Hoặc bà kể về một người họ hàng, sau năm 1975, đi cải tạo, thỉnh thoảng thư về cho vợ nói là nếu có đi thăm thì mua cái này, cái này… Bà bảo, thư xin tiếp tế của ông ấy dài như cái sớ.
Bà bắt các cháu, chủ nhật nào cũng phải đi vào chùa để học tiếng Việt. Tôi nghĩ bụng, tụi trẻ con nhà này thật may, được sống chung một nhà với bà thế này thì cần gì phải đi học tiếng Việt ở đâu nữa.
Khi tiễn tôi ra cửa, bà bảo, ở Việt Nam, mùa này là được ăn trám rồi đấy. Tiện có ai sang, con gửi cho bà mấy cân trám khô nhé.
Quãng đường ra bến xe khá xa. Trời đã nhá nhem. Tôi vừa lững thững bước vừa nghĩ bụng – bà ngoại của cô bạn tôi giống như cây cầu, nối bọn trẻ con với cội rễ của chúng, nối những giá trị truyền thống với hiện tại, cần mẫn, lặng lẽ và đều đặn mỗi ngày.
Những đứa cháu bà sinh ra ở Mỹ, không cứ phải biết ăn trám, không cứ phải biết nói tiếng Việt, cũng chẳng cần phải kiêng mang cuốc xẻng vào nhà mà vẫn sống được (thế nào mà chẳng sống được). Nhưng hình như trong hoàn cảnh này những cái được thì lại thường cụ thể và thấy ngay, còn cái mất thì lại rất trừu tượng, và phải rất lâu mới cảm thấy.