Một phòng chung 3 lớp học ở bản Phan Cán Sử, Trường Tiểu học Ý Tý 1. |
Khi cả nước tưng bừng bước vào năm học mới 2009 - 2010, chúng tôi quyết định vén bức màn mây đặc quánh bủa vây để trèo lên Ý Tý. Và phía sau mây mù, hiện lên quá nhiều điều khó hình dung xung quanh câu chuyện gieo chữ của các thầy cô giáo, ở nơi mà "giặc đói, giặc dốt" từ nhiều đời nay vẫn còn đeo bám...
Một phòng, chung ba lớp học
Khi ngồi viết những dòng này, cảm giác hãi hùng leo lên điểm bản Phan Cán Sử vẫn còn nguyên trong tôi. "Con ngựa sắt" dường như đã chồn chân sau cả hành trình dài hơn 500 cây số từ Hà Nội, vẫn nhảy chồm chồm bất kham khi cứ liên tục hơn 1 giờ đồng hồ hết trèo đèo, lại tụt dốc.
Và khi cảm giác đèo dốc còn chưa tan, lại thêm sự bàng hoàng khi phải chứng kiến một lớp học... có một không hai! Cả ba lớp 1, lớp 2, lớp 3 của điểm bản chung một phòng rộng chưa đầy 30 mét vuông được người dân dựng tạm lên bằng gỗ nát và bạt rách. Ba lớp học được phân riêng rẽ bởi hai tấm phên đan bởi tre rừng!
Và khi tiếng trống vào học cùng điểm một giờ; tiếng giảng bài của ba giáo viên; tiếng truy bài, học bài, ngay cả tiếng bút viết của học sinh ba lớp chung phòng ngân lên cứ "choảng" nhau loạn xạ! Thầy giáo Nguyễn Minh Đức, dạy lớp 3, chỉ còn nước cười trừ khi được hỏi về nghịch cảnh đã tồn tại nhiều năm này.
Anh nói: "Lớp 1 có 7 học sinh, đứng lớp là cô giáo trẻ Nguyễn Thị Thoa; lớp 2 có 6 học sinh do cô giáo Nguyễn Hạnh Chi dạy; còn lớp 3 là do tôi dạy. Ba lớp học chung một phòng, tiếng thầy giảng, tiếng trò thưa giữa các lớp, dù đã lựa nhau ra mà vẫn như... cãi nhau, sao mà tập trung được".
Thầy Lê Văn Nhiên, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Ý Tý số 1 cho biết, bước vào năm học mới, nhà trường có 20 lớp với tổng số 331 học sinh người Mông và Hà Nhì. Ngoài các lớp ở điểm trường chính, còn các lớp học được dựng ở 7 điểm bản. Trong đó, khó khăn nhất, với tình trạng 1 phòng 3 lớp học chung là ở điểm bản Phan Cán Sử và Chung Chải.
Bên cạnh đó, hầu như điểm bản nào cũng có "lớp ghép". "Lớp ghép có thể là 1 + 2, 2 + 3..., nghĩa là trình độ khác nhau, cùng ngồi học chung một giờ với một giáo viên giảng dạy kiêm nhiệm. Có thể cùng ngồi chung một lớp, thầy vừa phải dạy toán cho lớp này, lại vừa phải dạy văn cho lớp kia. Hiện vẫn còn tồn tại 8 lớp ghép kiểu như thế, có điểm bản có 2 lớp ghép".
Tại sao tồn tại tình trạng này? Thầy Nhiên lý giải: "Học sinh các điểm bản ít quá, chúng tôi không thể tổ chức một lớp riêng, cử thầy giáo riêng giảng dạy được". Thầy giáo đã 12 năm gắn bó với giáo dục Bát Xát nhận định, năm học mới này, nhà trường sẽ phải đối mặt với nhiều cái khó. Cái khó của cả học sinh lẫn những người gieo chữ. Mà đau xót hơn cả là trường hợp của 33 học sinh thuộc diện nội trú.
Tiếng là nội trú dân nuôi, đáng lý mỗi tuần, mỗi em phải góp 4 - 5 ký gạo với nhà trường, thế nhưng hầu như cả 33 em đều thuộc diện hoàn cảnh khó khăn do ảnh hưởng của cơn bão số 4 hồi năm ngoái, trong đó nhiều trường hợp mồ côi cha mẹ, 4 trường hợp mất cả cha lẫn mẹ. Vào thời điểm giáp hạt như hiện tại, có em cả nhà phải ăn ngô, ăn sắn miết cả tuần. Thế thì đòi góp gạo đi học, các em lấy đâu ra. Mà không đi học, đồng nghĩa việc các em sẽ thất học. Chẳng thầy cô nào đành!
Thế là vừa bước vào năm học mới, điều khiến nhà trường đau đầu nhất, là làm sao đi xin được 33 suất ăn. Nhà trường đã phải cử cô Hiệu phó Lương Thị Hồng lên UBND xã xin số lương thực này. Nhà trường nghe nói là lương thực sẽ có, nhưng nguồn ở đâu thì chưa ai biết. Cũng không ai biết rằng, sẽ có nguồn nào cho các em suốt cả năm học được không. Trong khi chờ đợi, chính nhà trường, chính các thầy đã tích cóp góp gạo vào cho từng bữa ăn cầm hơi của số 33 học sinh kia. Nhà trường cũng đã lên kế hoạch cử người tụt dốc xuống các trường thấp hơn liên hệ xin áo ấm, khi mùa đông đang trước mặt.
Xa xôi và khắc nghiệt
Đường lên Phan Cán Sử đã khó mà dường như còn chưa thấm gì so với đường vào Lao Chải, Sín Chải, nơi có Trường Tiểu học Ý Tý số 2. Mới tách ra từ trường số 1 từ tháng 8.2008, hiện nhà trường bước vào năm học thứ hai với rất nhiều con số không. Không đủ lớp học; không đủ bàn ghế đúng với dáng vóc học sinh; không đủ sách vở; không giáo viên các môn thể dục, âm nhạc, mỹ thuật (các thầy khác phải kiêm nhiệm); không nhà ở cho giáo viên; các điểm trường ở bản còn chưa có đường vào; không điện; không nước sinh hoạt...
![]() |
| Một giờ thể dục giữa trời mây ở Trường Tiểu học Ý Tý 1. Ảnh: Giang Hải. |
Cho tới mùa khai giảng năm nay, nhà trường mới nhận được 12 bộ bàn ghế chuẩn kích cỡ cho các học sinh lớp 1. Số bàn ghế này chỉ được dùng ở điểm trường chính. Sách vở cho giáo viên và học sinh, có lẽ phải tới giữa tháng 9 mới đầy đủ được, do đường vận chuyển quá khó khăn. Lại nói tới chuyện đường sá, thầy giáo Chiến, thầy giáo Cương nhăn mặt: "Trước khi lên đây, chúng tôi đã lường trước là sẽ có nhiều khó khăn. Nhưng lên tới nơi rồi, mới thấy, cái khó ấy không thể tưởng tượng được".
Cô Nguyễn Thị Hằng Nga, giáo viên dạy lớp 2, tiếp chuyện: "Ở điểm trường trung tâm tiểu học số 2 Ý Tý có 5 lớp, mỗi khối 1 lớp. Các điểm trường Lao Chải có 2 lớp ghép; Sim San 1, Sim San 2 đều có 1 lớp đơn và 2 lớp ghép; bản Hồng Ngài có 2 lớp đơn, 1 lớp ghép. Tổng số học sinh của nhà trường là 206 em, thuộc các dân tộc Mông, Dao và Hà Nhì. Phòng học ở các điểm bản 100% dựng lên từ tre nứa và lều bạt".
Và muốn vào tới các điểm trường Sim San 1, Sim San 2, Hồng Ngài thì không còn cách nào khác là phải đi bộ. Gần như bản Sim San 1 cũng phải đi bộ 1 giờ. Đêm hôm ấy (6.9), Quang và Hoa, hai thành viên trong đoàn ngược núi chúng tôi vào bản Sim San 1 theo các thầy cô giáo mà không dám trở ra nữa khi ánh sáng vừa tắt. Đường đi dốc núi dựng đứng, quá nguy hiểm!
Nhưng xa nhất phải là đường vào bản Hồng Ngài, nơi mà nhiều người vẫn nói, ấy là quê ngoại của nhân vật Mỵ trong tác phẩm vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài? Chưa kể việc đánh vật với cung đường khủng khiếp từ trung tâm xã vào bản Sín Chải, từ đó lại tiếp tục phải cuốc bộ đúng 1,5 giờ đồng hồ mới tới nơi. Điểm bản Hồng Ngài có 3 thầy giáo cắm bản, phải ở chung "địa bàn" với 2 chiến sĩ của đồn biên phòng Ý Tý. Lớp học cũng phải "mượn" nhà dân. Mà dạy học ở Hồng Ngài thì quá khổ bởi thiếu thốn đã đành, thiên nhiên lại rất khắc độc!
Chớm mùa hè (từ tháng 2 - 4), từng đợt gió phơn khô khốc từ mạn Lai Châu thổi sang, vượt Hoàng Liên Sơn thốc xuống, nóng râm người. Sợ nhất là khoảng 8 - 9 giờ sáng hàng ngày, gió thình lình xuất hiện, dữ tợn hất tung cả mái nhà dân; hất tung cả mái lớp học. Sang mùa đông thì lại lạnh cắt da, cắt thịt. Tôi nhớ lại, và kể với cô giáo Nga, rằng mùa đông năm kia, lạnh dưới 10 độ, các cháu học sinh cấp 1 dưới xuôi đều được cho nghỉ học cả.
Cô Nga cười, bảo: "Cứ mà như thế, thì cả mùa đông ở đây, cho học sinh nghỉ hết à?". Mùa đông nào các điểm trường của Trường Tiểu học số 2 cũng dưới 100C cả, mùa đông nào cũng băng giá, nhiều năm đóng băng, thậm chí có tuyết rơi! Thế mà cả thầy và trò vẫn phải vật lộn với thời tiết để lấy chữ.
Thầy giáo Chiến cho biết, rằng mùa đông, sương giăng mịt mù, trong lớp chẳng khác gì ngoài trời. Sương ướt sũng bảng, không viết phấn được. Giáo án của các thầy cũng nhòe đầy mực. Lớp học lúc ấy phải quây lại, xung quanh một đống lửa hồng. Thế mà cả thầy lẫn trò vẫn run bần bật. Thương nhất là các em học sinh, năm nào cũng băng giá tái tê mà năm nào cũng thiếu áo ấm để mặc cả.
Lại thêm những chuyện "cười ra nước mắt" với sự cách trở của Ý Tý. Rằng có người yêu một thầy giáo băng rừng, vượt dốc lên thăm người yêu, rồi khi tụt dốc trở về, sợ tới nỗi cứ nằng nặc đòi phải chia tay! Rằng vất vả nhất là các cô giáo phải cắm bản xa khi bụng mang dạ chửa. Có cô giáo tới khi được nghỉ đẻ theo chế độ, cố vượt ải hạ sơn để xuống dưới sinh con, đường quá xóc, nên vừa tới Mường Hum đã trở dạ sinh non.
Vào năm học mới, 2 cô giáo Nguyễn Thị Kiều Hương, Trần Vân Thảo cũng đang mang bầu. Cả hai cô ôm cái bụng kềnh càng, ngay cả vào trong trung tâm xã cũng chẳng dám đi, vì quá sợ đường. Khổ nỗi, mang thai thèm ăn nghén mà cả hai cô đều chỉ còn cách buộc bụng lại.
Bởi tất cả các điểm trường ở đây, tới cuối mỗi tuần, giáo viên nghỉ dạy mới có thời gian vượt núi cả giờ đồng hồ xuống xã, xuống huyện mua đồ ăn dự trữ cho cả tuần. Cứ một người đi mua hộ cho cả mấy người. Tuần nào bận việc, không có ai đi thì cả tuần ấy phải ăn miết cơm trắng với lạc khô, cá khô! Cũng vì cách trở như thế, cho nên hàng tháng, thầy Chiến, thầy Cương về quê, chỉ thăm nhà được đúng 1 giờ đồng hồ lại phải tìm cách ngược núi cho kịp ngày lên lớp...
Cô giáo Nga quay sang một câu chuyện khác, cũng đầy buồn bã: "Lại thêm chuyện đi thuyết phục phụ huynh cho con lên lớp. Mùa cấy, mùa gặt lúa, mùa phát nương, rồi những ngày cấm bản theo phong tục tập quán, các em đều nghỉ học. Có những ngày lớp học vãn quá nửa, chúng tôi lại phải tới từng nhà để thuyết phục.
Đường đi thuyết phục đèo dốc quá xa, có khi phải luồn rừng lên lán, phải tụt dốc xuống nương; mà rất nhiều phụ huynh không nói được tiếng phổ thông, nói chuyện khó lắm". Nhiều học sinh, sau khi được các thầy cô giáo thuyết phục tiếp tục được lên lớp nhưng phải cáng đáng thêm việc nhà, như trông em nhỏ cho bố mẹ đi nương, đi rừng. Ở bản Sim San 1, có tới 90% số học sinh cõng theo em nhỏ lên lớp rồi vừa trông em, vừa học...
***
Cũng xin chia sẻ với độc giả, rằng chưa khi nào chúng tôi lại có những cuộc trò chuyện phải tốc ký mỏi tay như thế. Thế mà vẫn chưa hết chuyện. Cô giáo Nga cười một cách rất đau xót, bảo rằng có kể cả ngày cũng không hết được những nhọc nhằn trong cuộc gieo chữ nơi đây. Toàn những chuyện đắng lòng, những chuyện không dễ ai hình dung được giữa lưng trời quanh năm mây trắng phủ mù.
Thầy Lê Văn Nhiên, khi chia tay tôi nói một cách đầy day dứt, rằng chưa mong học sinh nơi này được như dưới xuôi, nhưng ít ra cũng phải được cải thiện hơn, tương lai sẽ không còn khó khăn như hiện tại. Nhưng, đến bao giờ? Không ai hình dung được câu trả lời, là gần, hay xa. Nhưng ai cũng đều có cái mong ước ấy như thầy Nhiên cả. Những mong ước cổ tích sẽ sớm đến chốn mù sương.
