| Sinh viên ngành hóa học Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM) trong giờ thí nghiệm. Theo dự thảo, từ năm 2010 sinh viên ngành này sẽ đóng học phí tối đa 650.000 đồng/tháng - Ảnh: N.HÙNG |
Đó là những nội dung được đưa ra trong dự thảo nghị định về cơ chế thu và sử dụng học phí đối với các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015.
So với mức trần tối đa trong khung học phí hiện nay là 240.000 đồng/tháng, từ năm học 2010-2011 học phí các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục ĐH theo các nhóm ngành đào tạo có chất lượng đại trà sẽ tăng từ hơn 2 đến 3,3 lần (xem bảng).
Học phí tín chỉ không được vượt khung
Đối với trung cấp chuyên nghiệp, CĐ, CĐ nghề, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ có chất lượng đại trà từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015, khung học phí được xác định theo hệ số điều chỉnh so với khung học phí của ĐH tương ứng với từng nhóm ngành. Hệ số xác định cụ thể như sau: học phí trung cấp chuyên nghiệp bằng 0,7, CĐ và CĐ nghề bằng 0,8, học phí đào tạo thạc sĩ là 1,5, đào tạo tiến sĩ là 2,5 lần so với ĐH.
Riêng đối với trung cấp nghề sẽ có khung học phí riêng đối với từng nhóm ngành. Trong đó khối ngành thăm dò địa chất, thủy văn, khí tượng cao nhất, từ 300.000-700.000 đồng/tháng; thấp nhất là khối kỹ thuật điện tử, bưu chính viễn thông, từ 200.000-500.000 đồng/tháng.
Đáp ứng xu hướng các cơ sở đào tạo sẽ chuyển sang đào tạo theo hình thức tín chỉ, trong dự thảo này Bộ GD-ĐT đã đưa ra nguyên tắc xác định mức thu học phí đào tạo theo tín chỉ. Theo đó, mức thu học phí của một tín chỉ được xác định bằng cách lấy tổng thu học phí của toàn khóa học theo nhóm ngành đào tạo chia cho tổng số tín chỉ toàn khóa.
Học phí toàn khóa sẽ được tính theo nguyên tắc lấy mức thu học phí/tháng nhân với 10 tháng và nhân với số năm học. Áp dụng cách tính này, khi thu học phí theo tín chỉ, mức bình quân học phí hằng tháng của SV sẽ không vượt khung học phí quy định.
Đối với ngành sư phạm, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Trần Quang Quý cho biết theo nội dung sửa đổi Luật giáo dục vừa được Quốc hội thông qua, SV sư phạm sẽ tiếp tục được miễn học phí.
Ba mức học phí phổ thông
Khung học phí đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông được chia thành ba mức áp dụng cho ba địa bàn: thành phố, thị xã; nông thôn đồng bằng, trung du và nông thôn miền núi thấp.
Bộ GD-ĐT cho biết trên cơ sở khung học phí này, ở từng tỉnh thành, ủy ban nhân dân tỉnh, thành căn cứ vào nhu cầu phát triển giáo dục, mức sống của người dân địa phương mình để quy định mức thu học phí đại trà phù hợp từng địa bàn, từng vùng miền trong tỉnh, thành phố.
Các trường mầm non, phổ thông công lập cung cấp chất lượng chăm sóc và giáo dục cao hơn mức chất lượng đại trà của mỗi địa phương (tương ứng với mức chi phí của ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo), được phép thu mức học phí cao để đáp ứng nhu cầu cho con em học tập của các gia đình có thu nhập cao.
Mức thu học phí được xác định trên cơ sở đảm bảo bù đắp chi phí đào tạo chương trình chất lượng cao. Để được phép thu mức học phí cao, ngoài việc cam kết chất lượng cao hơn mức đại trà, các cơ sở giáo dục phải thực hiện quy chế công khai do Bộ GD-ĐT quy định.
| Nhóm ngành đào tạo ÐẠI HỌC | Khung học phí (đồng/tháng) |
| 1. Khoa học xã hội, kinh tế, luật | 290.000 - 550.000 |
| 2. Kỹ thuật, công nghệ | 310.000 - 650.000 |
| 3. Khoa học tự nhiên | 310.000 - 650.000 |
| 4. Nông - lâm - thủy sản | 290.000 - 550.000 |
| 5. Y dược | 340.000 - 800.000 |
| 6. Thể dục thể thao, nghệ thuật | 310.000 - 650.000 |
| 7. Sư phạm | 280.000 - 500.000 |
THANH HÀ (Tuổi trẻ)