Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Lạc quan và bi quan

05/04/2010 10 phút đọc Nguyễn Chí Thuật
Lạc quan yêu đờiCách đây mấy năm, ở Mỹ có một cuộc điều tra dư luận. Người Mỹ được hỏi về chuyện họ có tin
Lạc quan và bi quan

Lạc quan yêu đời
Lạc quan yêu đời

Cách đây mấy năm, ở Mỹ có một cuộc điều tra dư luận. Người Mỹ được hỏi về chuyện họ có tin vào thiên đàng và địa ngục hay không và họ có nhìn thấy khả năng mình sẽ có mặt ở hai nơi đó hay không (điều tra của Viện Gallup). Kết quả là 77 phần trăm những người dược hỏi tin vào thiên đàng và hầu như tất cả số này nghĩ mình có „cơ hội lớn” để lên trên đó. Số người Mỹ tin vào sự tồn tại của địa ngục ít hơn, bởi vì chỉ có 58 phần trăm, và chỉ có 6 phần trăm nghĩ đến khả năng mình bị nướng trên ngọn lửa của địa ngục. Thậm chí điều cảnh báo trong Kinh thánh rằng không phải ai muốn có mặt trên thiên đàng cũng được, không làm người Mỹ mất đi tinh thần lạc quan.

Ông Neil Weinstein trong khi nghiên cứu các sinh viên Mỹ đã nhận ra là phần lớn những người được hỏi đều cho rằng so với những „sinh viên bình thường khác” họ ít bị ảnh hưởng bởi các sự kiện tiêu cực trong cuộc sống (chẳng hạn như sa vào rượu chè, gây ra tai nạn tàu hỏa, li hôn, nhồi máu cơ tim trước tuổi 40) đồng thời nghĩ rằng so với những người khác mình sinh ra để được hưởng những điều tốt đẹp (hôn nhân suôn sẻ, con cái thông minh, đi du lịch châu Âu, làm công việc được trả lương cao). Tất nhiên trong trường hợp một cá nhân cụ thể rất khó nói, liệu những mong đợi đầy lạc quan này có cơ sở khách quan hay không. Nhưng nếu những niềm tin này được phần lớn những người trong số các nhóm đem ra đối chiếu với nhau khẳng định thì có thể nói đến sự sai lầm mang tính hệ thống trong cách đánh giá tương lai của mình. Sai lầm này ông Weinstein gọi là sự lạc quan không hiện thực, hay lạc quan tếu.

Các nhà quản lý được học về tinh thần lạc quan trong các khóa đào tạo và những người thất nghiệp học sự lạc quan trong các khóa huấn luyện về hiện thực hóa nghề nghiệp, còn các nhà tâm lý học thì luôn công bố những số liệu cho thấy những người lạc quan dễ sống hơn. Rõ ràng lạc quan thường có lợi hơn. Nhưng „thường” không có nghĩa là luôn luôn như vậy. Thừa nhận rằng mình sinh ra không phải để trở thành nạn nhân của những bất hạnh khác nhau trong đời, người ta sẽ giảm được những trạng thái căng thẳng về mặt cảm xúc, còn thừa nhận mình có nhiều khả năng hơn người khác để đạt tới những trạng thái tích cực là sự thừa nhận mang giá trị thúc đẩy cố gắng để đạt tới những mục tiêu mong muốn. Ở mức độ nào đó, cần phải chấp nhận giả thuyết rằng không có sự lạc quan thiếu hiện thực, lạc quan tếu, con người bị ngu muội đi theo một cách riêng nào đó vì anh ta trở thành người hay lo lắng và ít tự tin hơn. Nhưng mặt khác cũng cần phải nhận ra một điều rằng chính sự lo lắng này lại là yếu tố kích thích cần thiết để tăng cường tính tích cực nhằm loại bỏ nguy cơ. Chẳng hạn các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nữ sinh viên càng thể hiện sự lạc quan không hiện thực về khả năng khó mang thai ngoài ý muốn bao nhiêu họ càng ít sử dụng các phương pháp tránh thai bấy nhiêu. Tiếp theo, trong các nghiên cứu khác người ta lại khẳng định rằng những người sống bằng niềm tin mang chút ảo tưởng vào chuyện so với những người khác họ ít bị mắc các loại bệnh khác nhau, sẽ đặc biệt bỏ ngoài tai chỉ dẫn của bác sĩ liên quan đến những hành động phòng ngừa. Ảnh hưởng của sự thiếu thận trọng kiểu này không chỉ dừng lại ở tư tưởng lạc quan thiếu hiện thực. Richard Eiser và Benjamin Arnold đã nghiên cứu những người Anh đi nghỉ ở bãi biển Teneryfy. Kết quả cho thấy là mức độ lạc quan về hậu quả tiêu cực sẽ phải gánh chịu do phơi nắng (cháy da, nhăn nheo, ung thư da) ở những người được nghiên cứu càng cao bao nhiêu thì họ càng dành thời gian cho việc ngồi dưới nắng thiêu đốt lâu bấy nhiêu và càng ít dùng các loại thuốc chống cháy da bấy nhiêu. Trong một số nghiên cứu khác, các tác giả công trình đã khẳng định rằng sự lạc quan có thể trở thành thứ nguy hiểm đối với những người đi mô tô. Bởi vì nó liên quan đến thái độ coi nhẹ việc đội mũ bảo hiểm. Sự lạc quan đã dẫn đến việc hàng triệu người mất mạng. Bi kịch của các cuộc thập tự chinh thời trung cổ có nguồn gốc ở quan niệm Chúa sẽ ban chiến thắng cho những hiệp sĩ về Đất Thánh một cách chính đáng. Hậu quả tất yếu của quan niệm này các hiệp sĩ mang trong lòng niềm tin sắt đá rằng không gì thể hiện ý chí tốt hơn là một chuyến đi dài ngày, chấp nhận khó khăn, thậm chí kiệt sức và dọc đường diễn ra những cuộc giao tranh ác liệt. Đỉnh cao ảnh hưởng tiêu cực của những ảo tưởng tích cực có thể thấy ở cái gọi là cuộc chinh phạt trẻ con trong đó để chống lại một đội quân được trang bị tận răng, người ta lùa ra hàng ngàn thanh thiếu niên trẻ người non dạ. Trong những năm 30 của thiên niên kỷ trước, ở châu Âu có hàng triệu người Do thái. Nhưng rõ ràng là chỉ một số người có khả năng tài chính và pháp lý rời khỏi ngôi nhà mình đang ở để di cư sang Mỹ hay sang một nước nào đó thuộc quốc gia trung lập. Nhưng ngay cả  những người có quyền và có khả năng đó, chỉ một số không nhiều di cư hợp pháp. Bởi vì đã có một quan điểm đầy lạc quan cho rằng Hitler đã thỏa mãn những tham vọng đế vương của mình nên hắn sẽ không nhảy vào cái đất nước họ đang sống nữa ... Như vậy liệu sự lạc quan có phải là xấu, là không có tác dụng xây dựng, là không cần thiết hay không? Rõ ràng là không phải vậy. Nhưng trong một số trường hợp nhất định, khi nguy cơ là có thật, thì rất có thể - như chúng ta đã thấy – lạc quan trở thành cái bẫy. Rất may là trong phần lớn trường hợp, cơ thể chúng ta tự biết, cái gì đối với chúng ta là tốt, nên nó nhắc nhở chúng ta một cách chính xác, liệu trong bối cảnh cụ thể, nên là người lạc quan hơn hay bi quan thì hơn. Ngay sau khi xảy ra sự cố nhà máy điện nguyên tử Chécnôbyl, ở Ba Lan người ta đã tiến hành các công trình nghiên cứu nhằm phát hiện nguy cơ liên quan đến mức độ phóng xạ vượt mức cho phép. Kết quả cho thấy phần lớn những người thể hiện sự lạc quan thiếu hiện thực về nguy cơ sức khỏe của mình bị ảnh hưởng, đã bỏ ngoài tai mọi chỉ dẫn của cơ quan y tế. Điều đáng nói là trong công trình nghiên cứu này những người lạc quan một cách thiếu hiện thực chỉ chiếm số ít. Hiện tượng phổ biến mà ta có thể gọi là bi quan không mang tính hiện thực - phần lớn những người được hỏi đều cho mình là người bị những hậu quả tiêu cực của phóng xạ ảnh hưởng nặng hơn người khác. Đặc biệt hơn là chính niềm tin này lại giúp họ thể hiện tính tích cực trong việc xóa bỏ nguy cơ – tránh có mặt lâu ngoài trời, chịu khó uống sữa, ăn các loại mầm cây có tác dụng phòng chống chất phóng xạ ... Vậy là hàng ngày phần lớn chúng ta là những người lạc quan thiếu hiện thực. Một thái độ như vậy có tác dụng lạc quan hóa sự hành chức của chúng ta, giải phóng chúng ta khỏi những lo lắng không cần thiết. Trong tình hình có nguy cơ, những người chiếm đa số này lại trở thành những kẻ bi quan thiếu hiện thực. Và điều này lại lạc quan hóa sự hành chức của chúng ta, bởi nó tạo điều kiện để tránh các mối nguy hiểm. Như ông Tom Pyszczynski đã chỉ rõ, đôi khi thậm chí đã xảy ra trường hợp là có những người, ở mức độ nhất định, chủ ý „sa vào sự bi quan”. Chẳng hạn đôi khi các sinh viên cân nhắc xem mình sẽ được mấy điểm ở môn thi viết mà họ vừa làm xong. Khi đó họ hình dung điều xấu nhất có thể xảy ra. Tại sao như vậy? Con người ta nhận ra những sự kiện tiêu cực với tư cách những sự kiện hấp dẫn hơn khi chúng đến bất ngờ hơn là khi chúng đến như mong đợi. Việc tạo ra những khả năng mang tính bi quan là cuộc chơi đặc biệt để giành giật cảm xúc. Nếu ta tin chắc rằng bài thi sẽ không đạt kết quả cao thì trong trường hợp điều dự đoán này được khẳng định, nỗi buồn không phải là cái gì ghê gớm. Còn nếu mọi cái sau đó cho thấy là ta làm bài tốt thì thế nào? Thì đó chính là lý do để ta vui mừng chứ sao!     Có những người không thể sống bình thường nếu thiếu một chút bi quan. Chẳng hạn các sinh viên, mấy tuần trước kỳ thi, họ phải làm thức dậy trong lòng những phán đoán tiêu cực liên quan đến quá trình thi để tạo ra nỗi lo nhằm có động cơ học hành. Nói một cách đơn giản, không có nỗi lo đó họ không thể nào bắt tay vào việc học! Chưa hết, nếu những người này được đưa đi điều trị ngắn hạn để giúp họ có thái độ lạc quan, họ sẽ hoàn toàn gây thất vọng. Vậy có thể rút ra kết luận rằng cả tính lạc quan lẫn tính bi quan hay đầu óc thực tế đều có thể đem lại lợi ích thiết thực hoặc mang tính phá hoại. Bởi vì điều quan trọng là sự tồn tại, còn tồn tại với tư cách là người lạc quan, bi quan hay người có đầu óc thực tế, cái đó còn tùy thuộc. Sự „chuyển hướng” mang tính tình thế từ trạng thái này sang trạng thái kia cần phải thật khả thi. Và làm sao hàng ngày, bên cạnh việc chúng ta hãy là những người lạc quan với nụ cười tươi rói trên môi, cũng rất cần thỉnh thoảng bỏ cặp kính màu hồng đang đeo trên mũi xuống.  

 

 Nguyễn Chí Thuật(Qua tham khảo tài liệu Ba Lan)  

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu