Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Khán giả là “thượng đế”

15/05/2011 21 phút đọc Ngân Hoa ghi Thùy Trang
Càng được khán giả truyền hình quan tâm, theo dõi cũng đồng nghĩa giới truyền thông sẽ đua nhau khai thác thông tin, nhà
Khán giả là “thượng đế”

Càng được khán giả truyền hình quan tâm, theo dõi cũng đồng nghĩa giới truyền thông sẽ đua nhau khai thác thông tin, nhà tổ chức chương trình dễ dàng kiếm được tài trợ và lượng quảng cáo phát kèm chương trình theo đó sẽ tăng lên vùn vụt

 

Sự kiện nhạc sĩ Trần Tiến từ bỏ vai trò giám khảo cuộc thi Bước nhảy hoàn vũ 2011 giữa chừng cho thấy áp lực rất lớn từ công chúng đối với các chương trình giải trí truyền hình mang tính tương tác cao. Khán giả ngày nay là một khách hàng mà khách hàng thì luôn được coi là “thượng đế”.

“Thượng đế”- thước đo thành công

Điều không thể phủ nhận, thời gian gần đây, những phiên bản chương trình truyền hình của nước ngoài đổ bộ vào truyền hình Việt Nam với tốc độ chóng mặt. Ước tính có đến gần 50 gameshow (chương trình trò chơi), chương trình truyền hình thực tế được mua bản quyền từ nước ngoài được Việt hóa trên các kênh truyền hình Việt để phục vụ nhiều đối tượng khán giả truyền hình.

 


Uyên Linh - Quán quân của Vietnam Idol 2010 góp phần cho thành công của chương trình với lượng khán giả theo dõi đạt mức cao nhất. Ảnh: LÂM PHONG

Không phải tự nhiên mà nhiều nhà tổ chức dám đổ tiền tỉ ra để mua bản quyền những chương trình nổi tiếng từ nước ngoài về để thực hiện tại Việt Nam, như Vietnam Idol (mua bản quyền từ Pop Idol), Bước nhảy hoàn vũ (mua bản quyền từ Dancing with The Stars), Vietnam’s Next Top Model (mua bản quyền từ American’s Next Top Model),…Đây vốn là những chương trình đã rất nổi tiếng trên thế giới. Mỗi chương trình đều có vài chục quốc gia và vùng lãnh thổ mua bản quyền để sản xuất.

Với những hiệu ứng đã có từ nhiều quốc gia, các chương trình này khi về Việt Nam đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của khán giả. Tuy nhiên, sự hưởng ứng này có mức độ khác nhau, do chất lượng chương trình được sản xuất hấp dẫn hay không và đối tượng tham gia chương trình có gây được sức hút của công chúng hay không.

Những chương trình Vietnam Idol, Vietnam’s Next Top Model hay Bước nhảy hoàn vũ những năm đầu tiên luôn diễn ra trong sự hào hứng chờ đợi của khán giả và giới truyền thông. Bản gốc của những chương trình này đã là những chương trình quá xuất sắc nên khi sản xuất tại Việt Nam, dù có được Việt hóa thì nguyên tắc “tuân thủ và bám sát bản gốc”, đã được quy định trong các hợp đồng chuyển nhượng bản quyền, cũng giúp cho các chương trình Việt hóa này có sức hút. Rõ ràng, các chương trình này đã trở thành những chương trình truyền hình thực tế thành công trên truyền hình Việt thời gian gần đây.

Không chỉ có những chương trình mua bản quyền của nước ngoài, ngay chính những chương trình do các nhà tổ chức của Việt Nam sáng tạo cũng chịu áp lực của “thượng đế”. Minh chứng là các chương trình như Sao Mai - Điểm hẹn, Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình, Sao Mai, Tiếng ca Học đường,… cũng luôn phải giải bài toán tương tác với khán giả.

Chỉ số người xem chương trình sẽ nói lên mức độ thành công của chương trình. Một trong những lựa chọn của  nhà đầu tư, nhà sản xuất chương trình là  luôn chọn những người nổi tiếng, có sức hút khán giả cao vào vai trò giám khảo của cuộc thi. Điển hình là ca sĩ Mỹ Tâm trong Sao Mai - Điểm hẹn, trong vai trò thành viên ban giám khảo năm vừa qua. Chỉ tính riêng lượng người hâm mộ của ca sĩ Mỹ Tâm theo dõi cuộc thi hằng đêm cũng đủ để làm tăng lượng khán giả theo dõi chương trình này.

Sống hay chết: Khán giả quyết định

Những chương trình truyền hình có tính tương tác cao này, ngoài yếu tố chất lượng chuyên môn mà chương trình mang lại, lượng khán giả quan tâm theo dõi chương trình lại là thước đo sự thành công hay thất bại của chương trình, qua sóng truyền hình trực tiếp. Sự thành công này có ý nghĩa đặc biệt với nhà tổ chức, đài truyền hình phát sóng. Càng được khán giả truyền hình quan tâm, theo dõi cũng đồng nghĩa giới truyền thông sẽ đua nhau khai thác thông tin và như vậy nhà tổ chức chương trình dễ dàng kiếm được nhà tài trợ hào phóng rồi lượng quảng cáo phát kèm chương trình theo đó sẽ tăng lên vùn vụt.

Thực tế, việc mua các phiên bản chương trình “công nghệ tạo sao” của nước ngoài về Việt Nam hay chương trình truyền hình “made in Việt Nam” chỉ để phục vụ mục tiêu “hớt ngọn”: Thu hút thí sinh dự thi, phát sóng trên truyền hình, thu hút sự chú ý của khán giả, mang về quảng cáo - tức đem lại tiền cho nhà đầu tư. Chính vì vậy, khi chương trình có dấu hiệu giảm nhiệt cũng là lúc nhà đầu tư phải tính đến chuyện tung “chiêu”.

Nếu năm đầu tiên, chương trình Vietnam Idol tạo được những ấn tượng đặc biệt vì lần đầu tiên có mặt ở Việt Nam, sự cạnh tranh khốc liệt của các thí sinh ngang tài ngang sức, sự đa dạng về lượng thí sinh và cả vì sự đăng quang của Phương Vy hoàn toàn xứng đáng thì mùa giải sau đó, khán giả gần như không nhớ nổi tên người chiến thắng.

Đó chính là lý do, Vietnam Idol thay đổi nhà sản xuất ở mùa giải thứ 3, sau một năm tạm dừng. Trái ngược với suy nghĩ của nhiều người, mùa giải thứ 3 còn  gây tiếng vang hơn mùa giải đầu và được người trong giới đánh giá là “thành công” nhất tính đến thời điểm hiện tại về lượng khán giả theo dõi chương trình.

Sự chú ý của khán giả dành cho chương trình phải kể từ khi trên nhiều phương tiện truyền thông bắt đầu xuất hiện thông tin xì-căng-đan liên quan đến thí sinh cuộc thi. Bắt đầu là sự cố tranh luận giữa thí sinh khuyết tật Sơn Lâm và giám khảo Siu Black ngay trong vòng loại. Kế đến là vụ rò rỉ những bức ảnh nhạy cảm của Đức Anh Hugo trong quá trình giảm cân, rồi xì-căng-đan chửi thề hay nghi án một thí sinh là gái gọi... lần lượt xảy ra sau đó.

Sau những vụ việc đình đám này, Đăng Khoa chủ động rút lui, dừng cuộc chơi và người được nhường cơ hội đi tiếp lại trở thành chủ nhân mới của vị trí quán quân. Tất cả những sự kiện này được báo chí khai thác đến tận cùng thông tin và đưa tràn ngập trên các trang tin báo điện tử. Cuộc thi Vietnam’s Next Top Model mới đầu cũng diễn ra khá im lìm cho đến khi vụ tranh cãi, chỉ trích nhau giữa các thành viên ban giám khảo và kể cả nhà tổ chức được tung lên tràn ngập trên báo mạng.

Báo chí đưa tin càng say thì công chúng, kể cả những người chưa quan tâm hoặc không quan tâm cũng bắt đầu chú ý.

Giải trí truyền hình trước áp lực công chúng

Làm thế nào để thu hút công chúng quan tâm nhiều nhất đối với chương trình của mình nhưng không muốn trở nên phản cảm trong mắt khán giả, nhất là  những khán giả quá khích, là một bài toán đau đầu của nhà tổ chức.

 

Khán giả là áp lực

Bà Đặng Diễm Quỳnh (Biên tập chương trình Vietnam Idol 2010):

Vietnam Idol 2010 thu hút được sự quan tâm của khán giả với đủ cung bậc cảm xúc khác nhau: bực tức, thú vị, hả hê… Điều mình sợ nhất là chương trình làm ra mà không ai nói gì.

Đối với một chương trình thực tế, được truyền hình trực tiếp, chuyện khán giả bàn ra tán vào, khen chê là điều đương nhiên. Tất nhiên, điều đó cũng tạo ra áp lực rất lớn, quan trọng là cách suy nghĩ, nhìn nhận của mình đối với mỗi sự khen – chê đó. Nếu nhìn chương trình theo hướng xấu, mình sẽ cảm thấy rất khổ sở.

Trước mỗi chương trình, những người thực hiện đều phải tính toán những bước đi sao cho chương trình gập ghềnh, tạo cho khán giả có cảm giác mạnh một chút... Điều quan trọng nhất là cuối cùng phải về đích an toàn. Trong lúc mọi người còn nhỏ to thì mình vẫn tiếp tục âm thầm thực hiện để chương trình kết thúc tốt đẹp.

Ngân Hoa ghi

Thùy Trang (NLD) 
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu