Tôi đang có trên tay tập thơ “Ngược miền nắng ấm”* của Hoàng Trọng Hà. Tác giả là nhà thơ, người từng viết phê bình và tiểu luận trên các trang báo Quê Việt ở Ba Lan (với bút danh Hương Giang). Có thể nói anh là nhà thơ của những người Việt xa xứ. Thơ anh thường đề cập đến thân phận và tâm trạng của những người vì rất nhiều lý do khác nhau đã phải xa Tổ quốc, xa quê hương, sống nơi đất khách quê người.

“Ngược miền nắng ấm” gồm 43 bài, một tập thơ đầy cảm xúc, suy tư và lắng đọng. Mỗi bài thơ hé mở một tâm trạng, một góc khuất cuộc đời trong cảnh ngộ tha hương. Phần lớn các bài thơ trong tập diễn tả nỗi niềm của người xa xứ, diễn tả tâm trạng những người đang sống xa người thân, xa mảnh đất đã nuôi mình lớn lên.
Với những người xa xứ, nỗi nhớ nhà, nhớ người thân luôn là một tình cảm lớn. Hoàng Trọng Hà cũng vậy. Sống trên đất khách quê người, tâm hồn ấy vẫn luôn nhớ đến quê nhà. Vẻ đẹp tự nhiên, huyền bí của biển Ban tích đã gợi nên những xúc cảm nơi anh:
“Bạch dương xanh ngọn gió vỗ về
Cành đong đưa như thiếu nữ đa tình làm dáng
Nắng hào hoa dát vàng bờ cát
Em vô tư gieo ngơ ngác vào tôi…”
Nhưng, vẻ đẹp ấy không làm anh nguôi ngoai một nỗi nhớ:
“Hoàng hôn biếc da diết người xa xứ
Nhớ bóng dừa, bờ cát chói chang”
(Trước biển Ban tích chiều nay)
Hàng chục năm sống xa xứ, anh đã cho ra đời nhiều bài thơ nói về cuộc sống của cộng đồng người Việt ở Ba Lan như: “Trước biển Baltic chiều nay”, “Ngược miền nắng ấm”, “Nét quê”, “Lập xuân”, “Ghi ở trung tâm thương mại”... Bằng những vần thơ, anh cảm thông và chia sẻ với mọi người, anh xót xa và thương cảm cho họ cũng như cho chính mình...
“Đốt vía” là một trong những bài thơ mang tính nhân văn, hay cả về câu chữ lẫn ý tình, thể hiện lòng yêu thương đồng loại. Bài thơ gồm 4 khổ, 16 câu, miêu tả hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đơn độc bán hàng trong màn tuyết trắng, khi chưa tỏ mặt người. Chợ ế ẩm, báo hiệu một ngày dầm mình trong tuyết ê chề. Và đúng theo cách của những người Việt làm nghề buôn bán khi không mở hàng, chị đã đốt vía dữ để cầu buôn may bán đắt. Câu chuyện chỉ có thế, nhưng ẩn sau đó là lòng thương cảm của anh về thân phận mong manh của người đàn bà, liệu có ngọn lửa nào đuổi được sự bất trắc trong cuộc sống tha hương?
“Một mình em với căn phòng lạnh.
Vía lành nào ở lại cùng em?”
Cái hay của bài thơ là bằng hình thức độc thoại để chia sẻ, cầu mong điều tốt lành cho người đồng hương của mình. Bởi vì anh là “vía lành”, là cái vía mang lại may mắn cho em!
Những gian nan, vất vả không chỉ dành riêng cho phụ nữ; với “Không sợ mùa đông”, Hoàng Trọng Hà đã nói hộ các đấng mày râu. Trong bài thơ, hình ảnh người đàn ông hiện lên vững như đồng, chẳng sợ mùa đông cho dù mặt chai sạm vì gió rét, dù hai chân tê cóng vì ngập chìm trong bão tuyết, chẳng sợ mùa đông cho dù: “Bữa ăn sáng bát mì tôm húp vội / Cốc nước chè chưa uống đã thành băng...” Đấy là những khắc nghiệt của cuộc mưu sinh tự nguyện và anh đã hồn nhiên lý giải rằng: “anh đã quen”. Vậy nhưng: “Chỉ một mùa đông làm anh sợ hãi / Là mùa đông trong đôi mắt em. ”Thì ra, với những người xa xứ, tình cảm của người thân đối với mình mới là điều quan trọng nhất.
Những con người được nói đến trong thơ anh chủ yếu là những người lao động, bươn chải hàng ngày để kiếm sống. Họ có thể đã từng là bác sỹ, nhà giáo, nhà khoa học... Nhưng phần lớn họ là những người chấp nhận đi xa để mong thay đổi số phận. Đọc thơ Hoàng Trọng Hà, ta thấy được chia sẻ, được xoa dịu phần nào những cơ cực về thể xác, những day dứt nhung nhớ trong tâm hồn. Đúng vậy, cho dù ban ngày bận rộn vất vả, đêm về tưởng giấc ngủ sẽ bình yên, không mộng mị. Song ngược lại, khi đêm xuống, con người ta mới sống thực với lòng mình:
“Bếp lửa đỏ mà như không có thực
Cháy miên man chẳng đốt hết đêm dài
Mùi hương lửa gọi niềm thao thức
Trong lòng người từng đợt tuyết rơi rơi…”
(Đêm miền tuyết trắng)
Còn trong bài thơ “Rốt cuộc” anh viết:
“Rốt cuộc chỉ là cơn mộng
Em đã đi xa khuất phương trời
Như ngọn gió cuốn mùa thu đi vội
Để lại cánh rừng trơ trụi hồn tôi…”