Tựa bài trên, suy đi tính lại, có vẻ thông dụng và trực ngôn hơn: Mong đợi gì ở Minh triết Việt? Đơn giản, đó là câu nói minh triết của Balzac có thể làm đại diện cho chủ đề về vai trò, giá trị của nghiên cứu, phổ biến minh triết ở VN.
Minh triết Việt - hiểu thế nào?
"Định nghĩa minh triết là một việc rất khó", học giả Hoàng Ngọc Hiến đã thừa nhận như thế. Nhưng rất nhiều học giả Việt Nam khác đã khẳng định: Minh triết - giá trị văn hóa đang phục hưng, như tên một hội thảo do Trung tâm nghiên cứu minh triết thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức mới đây.
![]() |
| Học giả Hoàng Ngọc Hiến (Ảnh: B.D) |
Gần đây nhất có cuộc tọa đàm (seminar) do Quỹ Văn hóa Phan Châu Chinh và NXB Tri Thức chủ trì về chủ đề minh triết.
"Tìm cách định nghĩa minh triết, đó là bằng chứng của sự thiếu minh triết", câu nói hóm hỉnh ấy đã được viện dẫn cho cái khó của vấn đề. Tuy vậy, học giả Hoàng Ngọc Hiến vẫn đưa ra một định nghĩa: "Minh triết là sáng khôn (có khi được diễn ngôn thoáng gọn) chủ yếu được sống và sống ở bình diên đạo lý đời thường, tuy vậy không xa lạ với đạo lý thánh hiền, thiên về cảm hóa lòng người hơn là quở trách thói đời".
Các học giả Pháp thì có định nghĩa: "Minh triết là biểu hiện trí tuệ và đức hạnh của con người. Nó là đặc trưng của những ai biết sống hài hòa với chính mình và với đồng loại, hài hòa giữa thân xác và tâm hồn, biết nuôi dưỡng những phẩm chất tinh thần, biết gắn liền lời nói và việc làm".
Sẽ không phải ai, ngay lập tức, có thể mường tượng rõ được về minh triết nếu theo định nghĩa đó bởi thoạt nghe sẽ thấy vấn đề này khó (có vẻ) khó hiểu, trừu tượng như... triết học, triết luận.
Sẽ gần gũi, dễ hình dung hơn khi gắn minh triết với những câu chuyện, câu nói cụ thể, mà phát biểu của Balzac kể trên là một ví dụ.
Nếu như K. Marx đã viết trong cứ liệu uyên bác, lập luận đanh thép để đi đến một kết luận quyết liệt: bãi bỏ tư hữu. Nhiều thế hệ đi sau cũng từng thuyết giảng đến ngàn trang về tư hữu. Thế nhưng Balzac lại nói: "Người mà không có gì là kẻ chẳng ra gì". Còn học giả Hoàng Ngọc Hiến bảo: Giá như Marx có thêm được minh triết của Balzac chắc chắn ông suy nghĩ khác và những học thuyết của ông không phải là chủ nghĩa Marx như chúng ta biết.
Đức Phật có 14 lời khuyên, có những câu như: Kẻ thù lớn nhất đời người là chính mình; An ủi lớn nhất đời người là làm bố thí... Đó là minh triết.
Khi Hoàng Ngọc Hiến hỏi nhà văn Nguyên Ngọc về minh triết các dân tộc Tây Nguyên, ông dẫn một câu "xanh rờn" từ một bản trường ca: "Đàn ông là sấm, đàn bà là sét".
"Có một cháu bé hơn mười tuổi, học lớp 3, một lần đi sơ tán về, cháu nói với tôi: Bác ạ, mình cứ nói người nhà quê ra Hà NộI thì đần, cháu thấy người Hà Nội về nhà quê cũng đần, hôm đầu, cháu chịu, không biết làm thế nào để rửa chân, mãi mấy hôm sau cháu mới biết cách. Câu nói của cháu làm tôi sửng sốt. Đấy là một nhận xét mới", Hoàng Ngọc Hiến kể.
Như thế, minh triết là sự soi sáng và ánh sáng có thể chiếu rọi đến khắp nơi, rất rộng dài mà không ai có thể bao quát hết. Một người minh triết có thể hình dung là người mà "năng lực có những lựa chọn đúng và đưa ra những quyết định tốI ưu ngay cả khi chưa có thông tin đầy đủ" như đúc kết của Troy Dunn.
Từ con người minh triết sẽ có nền giáo dục minh triết, kinh tế minh triết, xã hội minh triết, dân tộc minh triết hay minh triết Việt - khái niệm đang dần hình thành. Và không thể khác được, nghiên cứu minh triết ở Việt Nam là bắt đầu bằng tổng kiểm kê, sưu tầm và bổ sung nhưng viễn ngọc sáng của minh triết đang rải rác ở khắp khơi - như nhiều học giả xác định.
Mong đợi gì ở minh triết Việt?
Nghiên cứu minh triết và phát triển minh triết Việt - đó là con đường và công việc thu hút ngày càng nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhà văn hóa tham gia. Với sự đề cao tính nghiệm sinh, sự cân bằng, hài hòa và biểu hiện lối sống, các học giả đang lên tiếng cho việc hành thanh những con người minh triết, nền giáo dục minh triết và sự tác động của minh triết đến con đường đi của VN.
![]() |
| Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai (Ảnh: B.D) |
Về con người minh triết, có thể hiểu đó là con người khôn ngoan, có lương tri, biết điều và hẳn hoi (có lẽ chữ "hẳn hoi" này gần nghĩa với chữ "đàng hoàng" - con người minh triết là đàng hoàng, hẳn hoi). Còn một nhà lãnh đạo minh triết là người "càng ít sử dụng quyền lực thì quyền lực càng lớn" như nhà khai quốc Thomas Jefferson từng viết hay thể hiện được "nói đi đôi với làm" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu gương.
Còn nền giáo dục, kinh tế minh triết, có thể chờ đợi ở sự cắt nghĩa ngắn gọn của học giả Hoàng Ngọc Hiến: "Kinh tế tri thức" rất hấp dẫn nhưng nguy hiểm, vì tri thức và lý thuyết một khi "lộng hành" thì sẽ gạt phăng các giá trị tinh thần, đạo đức. Do đó mới có sự đề xuất "kinh tế minh triết". "Giáo dục tri thức" cũng rất hấp dẫn nhưng nguy hiểm. Xu thế ngày càng có tính chất áp đảo của giáo dục toàn thế giới là sự truyền đạt tri thức và kỹ năng hầu như trở thành mục tiêu duy nhất của giáo dục, làm lu mờ mục tiêu giáo dục những GIÁ TRỊ chi phối người sinh viên sử dụng những tri thức và kỹ năng đó như thế nào và làm gì.
Hiện nay hầu như không có triển vọng nào ngăn ngừa xu thế này. Trên thế giới tiếng nói của những học giả lỗi lạc đòi hỏi cải tạo một cách cơ bản nền giáo dục hiện nay thanh nền "giáo dục minh triết" còn hết sức yếu ớt. Không mấy ai quan tấm đến nguyên lý giáo dục của Gandhi được đề ra từ đầu thế kỷ trước: "Giáo dục cơ sở phải lấy minh triết và lòng thiện làm nền tảng".
Những biểu hiện của minh triết có tính chất tổng thể: vừa là chân, là mỹ, là thiện; vừa là tri thức, là kinh nghiệm; vừa là trí tuệ, là tâm hồn, lá ý chí; vừa là vốn sống, lối sống, phương pháp tư duy...".
Một vấn đề lớn hơn đã được bàn đến là minh triết đóng góp gì vào xây dựng học thuyết, chủ thuyết phát triển của Việt Nam? Con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được soi rọi bằng tư tưởng Minh triết từ truyền thống đến hiện đại như thế nào?
Xin được dẫn ra đây phần kết trong bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai cho phần "Minh triết tham gia vào sự phát triển hôm nay":
"Có một giá trị Minh triết Việt cần được đưa vào hệ nhận thức về lý luận phát triển". Đó là câu nói của Ngô Thì Sĩ, một sĩ phu lớn của thế kỷ XVIII mà chúng ta chưa đánh giá hết tầm cỡ. Cái ý kiến mà chính Phan Huy Chú, một sĩ phu khác đã phải đưa vào sách của mình:
"Đem Đạo Thánh Hiền để quở trách thói đời không bằng đem Đạo Đời Thường để cảm hóa lòng người"
Đây quả là một giá trị minh triết, một nguyên lý để định hướng, để định phẩm, định hình một chủ trương phát triển, một quá trình, một quy trình phát triển. Phải lấy cái thường (bình thường) làm trọng. Phải lấy đời thường làm trọng. Coi đạo đời thường là cần thiết, có ích, đúng và tốt hơn cả.
Quá trình Đổi mới cho ta nhiều bài học về Đạo Đời Thường. Trong Dịch có khi cũng đề cập đến ý "tuyệt thánh, khí trí" (dứt thánh, bỏ trí) là vậy.
Mãi tận ngày nay, chúng ta vẫn còn thói xấu hay lấy "thánh hiền" để hù dọa xã hội. Một mô hình phát triển mà người chủ trương, người rao giảng, người thi hành và cả dân chúng nữa cũng không rõ là gì là thế nào nhưng vẫn "quở trách" vẫn áp đặt cho người dân cho xã hội! Cho nên Karl Marx có lý khi nói rằng: "Khi một chính phủ lừa dối (nghĩ một đằng, nói một nẻo, làm theo lối khác...) thì dân chúng hoặc trở thành một lũ mê tín chính trị, hoặc quay ra chỉ lo lấy cái tư riêng của mình, không lý gì tới quốc gia xã hội nữa!"
Đạo đời thương có nghĩa là công ăn, việc làm, ý nghĩ, vui chơi, giải trí, thỏa mãn nhu cầu cả vật chất cả văn hóa, tinh thần cả thân xác cả tâm linh của con người. Nghĩa là những nhu cầu cá nhân và xã hội bình thường của nhân dân. Nhưng đạo đời thường cũng có nghĩa là cái gì gọi là bình thường của nhân loại đương đại dân mình cũng được dùng, được hưởng.
Nếu biết nhân danh Đạo đời thường để thúc đẩy phát triển thì đấy mới là: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, mới là "chí công vô tư", mới là: "Trên thế giới không gì tốt đẹp bằng phục vụ nhân dân" như Hồ Chí Minh nói".
Bùi Dũng (lược ghi)Tuần Việt Nam

