Để chuyển đổi thành công từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, cần có một thể chế mạnh, minh bạch, bộ máy lãnh đạo có tầm nhìn và trí tuệ, luật pháp thực thi nghiêm túc... - Đại sứ Hungary Vizi László.
Tình bạn cũ trong bối cảnh toàn cầu mớiNhà báo Việt Lâm: Xin chào ngài Đại sứ! Chúng tôi rất vui được chào đón ông đến trực tuyến với độc giả VietNamNet hôm nay. Trong ký ức và trái tim của nhiều người Việt Nam, cái tên Hungary gợi lên nhiều kỷ niệm êm đềm và cảm xúc gắn bó thân thương của một người bạn cũ, đã sát cánh ủng hộ Việt Nam trong suốt những năm chiến tranh.
Trong cuộc trực tuyến hôm nay, hi vọng ông sẽ chia sẻ với độc giả VietNamNet những góc nhìn và suy ngẫm của ông về quá trình phát triển của Hungary cũng như mối quan hệ Việt - Hung ngày nay.
Đại sứ Vizi László: Tôi rất vui khi nhận được lời mời của VietNamNet tham gia chương trình trò chuyện trực tuyến. Tôi biết rằng rất nhiều độc giả Việt Nam cũng như nhiều người bạn của tôi ở Hungary coi VietNamNet như một kênh thông tin quan trọng. Chúc mừng các bạn vì những thành công đó. Tôi rất vui và sẵn lòng thông qua VietNamNet chia sẻ một số thông tin và góc nhìn của tôi.
Về mối quan hệ song phương: Hungary đã có mặt ở đây trong 6 thập kỉ. Chúng ta sẽ kỉ niệm 60 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước vào tháng 2 năm tới. Hungary đã có mặt ngay vào lúc Việt Nam đang khó khăn để chung tay giúp đỡ.
Ngày nay, Hungary- một thành viên của EU, và Việt Nam - thành viên của ASEAN có thể cùng nhau hợp tác, chuyển giao giá trị truyền thống của quan hệ song phương như nguồn nhân lực: nhiều sinh viên Việt Nam đã sang Việt Nam học tập và bây giờ vẫn vậy. Đồng thời, cùng đứng trước những cơ hội và thách thức cụ thể của môi trường toàn cầu. Chúng ta sẽ chứng kiến một mối quan hệ song phương mới, nơi xem xét mối quan hệ tốt đẹp truyền thống cũng như nhìn mối quan hệ đó trong bối cảnh toàn cầu mới.

Đại sứ Vizi László và nhà báo Việt Lâm trong cuộc Bàn tròn trực tuyến. Ảnh: Lê Anh Dũng
Nhà báo Việt Lâm: Việt Nam và Hungary đã có 60 năm phát triển quan hệ. Trong tâm trí nhiều người Việt Nam, Hungary là người bạn vô cùng gần gũi, nhất là ở thời điểm khó khăn. Tuy nhiên, từ sau chiến tranh lạnh, nhiều người cảm nhận quan hệ này dường như có phần hơi xa cách hơn so với trước đây... Theo ngài Đại sứ, liệu chúng ta cần phải làm gì đưa quan hệ giữa hai nước gần gũi trở lại như trước?
Đại sứ Vizi László: Tôi chỉ đồng ý một phần với bạn. Tôi cho rằng tình hữu nghị và sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau giữa hai nước vẫn được duy trì, ngay cả thời điểm mà bạn đề cập, ở thập kỉ 90 của thế kỉ 20. Vào thời điểm đó, cả hai nước đều chú trọng vào phát triển trong nước, và sắp xếp lại quan hệ song phương. Hungary thay đổi hệ thống, nhất là hệ thống kinh tế, tái định hình nền kinh tế cũng như quan hệ quốc tế. Việt Nam cũng vậy, từ năm 1986 với quá trình Đổi mới, Việt Nam cũng rất bận rộn với các chính sách kinh tế trong nước, và những mối quan hệ đối ngoại có sự điều chỉnh.
Thập kỉ 90 của thế kỉ 20 là thập kỉ của việc giảm sự quan tâm đối với các vấn đề đối ngoại của cả hai nước. Chúng ta đã rất may mắn là đã có thể thay đổi điều đó. Từ đầu thế kỉ 21, quan hệ hai nước đã rộng và sâu hơn, và mở rộng ra các lĩnh vực mới. Tuy nhiên, mối quan hệ song phương cũng như sự thông cảm lẫn nhau giữa nhân dân hai nước vẫn luôn được duy trì, ngay cả trong thời điểm những năm 90.
Nhà báo Việt Lâm: Theo ông, những lĩnh vực tiềm năng nào mà hai nước có thể đẩy mạnh hợp tác?
Đại sứ Vizi László: Trong những năm 70, 80, rất nhiều sản phẩm của Hungary đã được xuất hiện ở thị trường Việt Nam, như thuốc, nông nghiệp... Những sản phẩm này cũng có thị phần quan trọng ở thị trường Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
Một trong những sản phẩm xuất khẩu hàng đầu tư Hungary sang thị trường Việt Nam là tân dược. Đã có hai công ty được của Hungary hiện diện ở TP.HCM. Chúng tôi cũng rất vui khi sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu truyền thống của Hungary cũng có mặt ở Việt Nam như salami. Nhiều DN Hungary có cơ hội chuyển giao công nghệ, máy móc, thiết bị của Hungary sang thị trường Việt Nam. Điều này rất quan trọng cho quan hệ hai nước trong tương lai.
Không chỉ các sản phẩm truyền thống, một số giải pháp công nghệ thông tin riêng biệt của Hungary cũng đã thâm nhập vào thị trường Việt Nam và chiếm lĩnh thị phần.
Ngoài ra, Hungary rất có kinh nghiệm xây dựng các hệ thống xử lý nước. Đây là một trong số những lĩnh vực mà chúng ta dễ hình dung về sự hợp tác song phương.
Một lĩnh vực quan trọng khác cũng có thể hợp tác phát triển đó là du lịch. Như các bạn biết đấy, Hungary là một trong những quốc gia thu hút khách du lịch. Và du lịch ở Việt Nam cũng đang phát triển rất nhanh. Triển vọng phát triển lĩnh vực này rất lớn. Điều thú vị, Việt Nam là một trong số các nước đã tham gia triển lãm du lịch Hungary vào năm 2008 với chủ đề tình hữu nghị.
Đầu năm 2009, một số DN và nhà báo Hungary đã đến Việt Nam tham gia triển lãm về xuất khẩu tại Hà Nội. Những mối liên hệ này là cơ sở để chúng ta chứng kiến sự hợp tác lớn hơn trong những năm tới.
Việt Nam có nhiều điểm có thể thu hút các du khách Hungary.
Nhà báo Việt Lâm: Thế theo Đại sứ, làm thế nào để Việt Nam thu hút được đông đảo du khách Hungary, những người thích du lịch hàng đầu thế giới?
Trước hết, chính là thiên nhiên, cảnh quan, nhất là biển và các bãi biển của Việt Nam. Người Hungary thích biển. Trong khi đó, Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài hơn 3600km, với nhiều bờ biển đẹp. Các bạn cần giới thiệu cho người dân Hungary về các bãi biển đó, gắn với các khu nghỉ dưỡng, resort như Mũi Né, Nha Trang, Vũng Tàu, Hội An, Phú Quốc...
Hai là, sự hấp dẫn văn hóa của các bạn. Việt Nam có lịch sử dài. Năm tới, Hà Nội sẽ kỉ niệm 1000 năm lịch sử tồn tại. Nhiều khách Hungary sẽ tới đây để chứng kiến và trải nghiệm nền văn hóa phong phú và giàu truyền thống của các bạn.
Điểm hấp dẫn du lịch thứ ba chính là mua sắm. Việt Nam là nơi khách Hungary có thể tìm mua nhiều sản phẩm với giá rẻ và chất lượng tốt.
Có thể nói, mua sắm, biển và văn hóa chính là ba trụ cột hấp dẫn du lịch của Việt Nam.

Đại sứ Vizi László trong cuộc Bàn tròn trực tuyến. Ảnh: Lê Anh Dũng
Nhà báo Việt Lâm: Hungary là nước đã từng đón nhận nhiều sinh viên và lao động Việt Nam trong đó nhiều người trở về nước giữ những vị trí quan trọng. Hiện nay ở Hungary cộng đồng người Việt cũng khá đông (~4000 người). Đại sứ đánh giá như thế nào về vai trò của những người này trong việc thúc đẩy quan hệ nhiều mặt giữa hai nước?
Đại sứ Vizi László: Tôi thích câu hỏi này. Những người này thực sự là cầu nối giữa hai nước. Trong những năm 1960-1980, có khoảng 3500-4000 sinh viên Việt Nam đã sang Hungary học tập. Và như bạn đã nói, không ít trong số họ giữ vị trí quan trọng trong chính quyền, trong hoạt động kinh doanh, văn hóa... Ở Việt Nam, có Bộ trưởng, một số Thứ trưởng, Phó Giám đốc Ngân hàng... đã từng học tập tại Hungary. Và những người này không bao giờ quên rằng họ đã từng có cơ hội học tập tại Hungary. Hiện nay, khoảng 5000 người đang học và làm việc tại Hungary.
Trong các chuyến thăm gần đây của lãnh đạo Việt Nam tới Hungary (chuyến thăm của Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng 7/2008 và chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2009), lãnh đạo Việt Nam đều thu xếp cuộc gặp với cộng đồng người Việt tai Hungary. Không chỉ người Việt Nam từng học tại Hungary mà người Việt Nam tại Hungary cũng là cầu nối quan trọng cho hai nước. Việt Nam cũng là nước có nhiều người có thể nói tiếng Hungary đông đảo. Không ở đâu trên thế giới có thể thấy lượng người nói tiếng Hungary nhưng không có nguồn gốc người Hungary đông đảo đến thế.
Bạn đọc Đoàn Kết, Hà Nội: Nhiều nước trong EU có quan hệ truyền thống với Việt Nam. Nhiều người xem Việt Nam là cánh cửa quan trọng để mở ra quan hệ sâu rộng giữa ASEAN với EU. Hungary nhìn nhận như thế nào về vai trò của Việt Nam trong ASEAN và cơ hội kết nối quan hệ song phương ASEAN - EU?
Đại sứ Vizi László: Việt Nam và EU đang đàm phán về một hiệp định đối tác và hợp tác thương mại song phương. Nhiều vòng đàm phán đã diễn ra. Đã có nhiều dấu hiệu triển vọng tốt đẹp cho việc đàm phán này trong tương lai gần, trong đó kết nối 27 nước thành viên EU và Việt Nam.
Hai là, liên quan đến thương mại, EU và ASEAN mà Việt Nam là một thành viên cũng đang thảo luận về một hiệp định khu vực thương mại tự do song phương từ vài năm trước. Hi vọng, với hợp tác cấp liên khu vực, ít nhất là giữa EU với một số thành viên ASEAN sẽ tạo cơ hội thuận lợi hơn cho xuất nhập khẩu giữa hai bên. Và Việt Nam là một trong những thành viên của ASEAN bắt đầu sớm quá trình đàm phán Hiệp định khu vực thương mại tự do ASEAN - EU.
Bạn đọc Xuân Linh - Hà Nội: "Theo tôi biết, Hungary sẵn sàng chuyển giao công nghệ mới cho Việt Nam, điều mà Việt Nam không dễ gì tiếp cận. Việc hợp tác này ra sao? Liệu có khó khăn gì trong việc đẩy mạnh hợp tác song phương trong lĩnh vực này?
Đại sứ Vizi László: Có nhiều điều tôi muốn chia sẻ với các bạn. Trong chuyến thăm mới đây của Tổng thống Hungary, hai bên đã thỏa thuận về cung cấp ODA, và cung cấp các khoản vay ưu đãi, trị giá 35 triệu euro. Năm nay, hai Thủ tướng đã có một thỏa thuận mới về cung cấp ODA trị giá 60 triệu euro. Hai thỏa thuận này cung cấp một khung khổ pháp lý cho Hungary cung cấp hệ thống xử lý nước, một đòi hỏi cấp thiết của Việt Nam vào thời điểm hiện nay.
Trong thỏa thuận thứ hai, Hungary có thể xây dựng một bệnh viện ở lưu vực sông Mê Kông, dự tính với 500 giường bệnh, đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân 6 tỉnh ĐBSCL.
Trong giai đoạn đầu, chúng tôi tập trung vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường, nước sạch và y tế với sự hỗ trợ công nghệ từ Hungary.
Tuần tới, sẽ có chuyến thăm của Bộ trưởng Nông nghiệp Hungary tới Việt Nam. Nội dung thảo luận sẽ liên quan đến luật mới về an toàn vệ sinh thực phẩm mà Việt Nam đang xây dựng. Hungary có kinh nghiệm ở cấp quốc gia trong vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, và chúng tôi sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam.
Và điều cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là Hungary có nguồn nước khoáng và khả năng đánh giá lượng nước này rất tốt. Chúng tôi sẵn sàng giúp Việt Nam trong việc tiến hành khảo sát đánh giá lượng nước khoáng tại Việt Nam. Đây sẽ là một trong những đầu vào quan trọng của Hungary.
Với hỗ trợ của Hungary, Việt Nam có thể phát triển trong các lĩnh vực này, đóng góp vào sự phát triển chung của Việt Nam.

Đại sứ Vizi László trong cuộc Bàn tròn trực tuyến. Ảnh: Lê Anh Dũng
Nhà báo Việt Lâm: Sự trao đổi văn hoá và con người sẽ tạo chiều sâu cho mối quan hệ. Sau hơn 2 năm sống ở Việt Nam, ông thấy người Việt Nam đã biết và hiểu và Hungary hay chưa và ngược lại? Làm thế nào để thúc đẩy hơn nữa sự hiểu biết lẫn nhau này?
Đại sứ Vizi László: Đương nhiên chúng ta không bao giờ có thể tự hài lòng, đặc biệt khi nhìn lại quá khứ, sự trao đổi văn hóa và giáo dục giữa hai bên đã hết sức tốt đẹp.
Trong những năm 1960-1980, hai nước đã rất tích cực trong các hoạt động hợp tác, trao đổi văn hóa và giáo dục, ở tất cả các mặt. Tuy nhiên, đã có sự phát triển mang tính cam kết rõ ràng giữa hai nước vào thời điểm hiện nay. Chính phủ Hungary cung cấp 5 học bổng mỗi năm cho sinh viên Việt Nam. Từ 2005, đã có thêm 20 suất học bổng được trao cho sinh viên Việt Nam về nông nghiệp. Đây là hoạt động trong khuôn khổ chương trình về lương thực và nông nghiệp giữa hai nước.
Đó là học bổng cấp nhà nước. Chúng tôi cũng rất vui mừng khi thấy ngày càng nhiều sinh viên Việt Nam tự chi trả để sang Hungary học tập. Khoảng 200 sinh viên Việt Nam du học tự túc tại Hungary.
Chính phủ Việt Nam cũng cấp học bổng nhà nước cho sinh viên sang Hungary học tập. Đã có 20 sinh viên đã bắt đầu du học tại Hungary theo diện này.
Có thể nói, trao đổi giáo dục đã được chú trọng trong quan hệ hai nước.
Về văn hóa, đây là lĩnh vực ít được chú trọng. Tuy nhiên, chúng tôi rất vui mừng khi nhân dịp kỉ niệm 60 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hungary, sẽ có nhiều hoạt động giao lưu văn hóa được tổ chức, tại Việt Nam cũng như Hungary: biểu diễn âm nhạc truyền thống Hungary tại Nhà hát Lớn Hà Nội tháng 2/2010, tuần lễ văn hóa Hungary tại Hà Nội, xuất bản tập thơ của các nhà thơ nổi tiếng của Hungary bằng tiếng Việt... triển lãm văn hóa Hungary tại Việt Nam, triển lãm tranh Hungary tại Việt Nam, và xuất bản sách 60 năm quan hệ hai nước bằng hai thứ tiếng Việt Nam và Hungary... trong đó nêu rõ thành tựu quan hệ chính trị - kinh tế - văn hóa - giáo dục của hai nước 60 năm qua, nhớ về những con người đã đóng góp cho mối quan hệ đó, từ những người lính đã cùng Việt Nam chiến đấu chống ngoại xâm, những chuyên gia giúp Việt Nam phát triển, những cựu sinh viên Việt Nam tại Hungary... Khi nào hoàn thành cuốn sách, chúng tôi sẵn lòng gửi tới VietNamNet 1 bản.
Nhà báo Việt Lâm: Xin cảm ơn ngài Đại sứ. Chúng tôi sẵn lòng giới thiệu cuốn sách đó trên VietNamNet.
Nhiều người Việt Nam biết rằng, sau chiến tranh Lạnh, tình cảm của người dân Đông Âu dành cho Việt nam do nhiều nguyên nhân khác nhau đã ít nhiều phai lạt. Tuy nhiên, người Việt ở Hungary cho biết, người Hungary vẫn giữ mối thiện cảm với Việt Nam và đánh giá cao Hồ Chí Minh. Ông nghĩ sao về điều này?
Đại sứ Vizi László: Tôi hoàn toàn chia sẻ với bạn. Đúng là ngay từ đầu, đã có cuộc thảo luận về vấn đề này, ngay cả khi quan hệ hai nước không được chú trọng thì sự thông cảm và chia sẻ lẫn nhau giữa hai nước vẫn luôn tồn tại.
Bản thân tôi cho rằng, có rất nhiều sự giống nhau giữa nhân dân hai nước. Trước hết, tôi sẽ bắt đầu bằng một điều ít ai biết: người Hungary có gốc là người Đông Á. Từ Đông Á, họ di chuyển sang châu Âu và định cư ở vùng đất nay là Hungary. Đây là thuận lợi mang tính xã hội học của nhân dân hai nước.
Hai là, người Hungary và Việt Nam đều nhấn mạnh vào lịch sử và văn hóa. Người dân hau nước đều thích sống trong tự do, không chịu sự cai trị của bất kì ai khác. 23/10 là quốc khánh của Hungary. Thực ra chúng tôi có 3 ngày quốc khánh: ngày quốc lễ là 20/8 kỉ niệm vị vua đầu tiên lên ngôi. Ngày 15/3, ngày cách mạng của Hungary giải phóng dân tộc vào 1828.
Và ngày quốc khánh thứ 3 là 23/10, cách mạng thứ 16, đấu tranh vì tự do và độc lập, ngày có ý nghĩa lớn với người dân Hungary ở thế kỉ 20. 20 năm trước, nước CH Hungary ra đời, do đó, chúng tôi kỉ niệm ngày này... Ví thế, tôi rất vui khi trao đổi với VietNamNet vào đúng ngày này, để nhắc lại ngày lịch sử này của đất nước Hungary.
Nhà báo Việt Lâm: Đó là cũng câu hỏi của Phương Lan, Tp.HCM: Hôm nay là ngày kỉ niệm 53 năm cuộc cách mạng 1956 và 20 năm ngày thành lập Cộng hoà Hungary. Ông có cảm xúc như thế nào trong ngày đại lễ của dân tộc Hung khi giao lưu cùng độc giả Việt Nam, một đất nước có nhiều điểm tương đồng với Hungary: từng chịu rất nhiều khổ đau, chia ly trong chiến tranh và trong lòng người, và đang trên con đường hội nhập với thế giới? Liệu Hungary có thể chia sẻ bài học kinh nghiệm gì cho Việt Nam trong quá trình hội nhập với thế giới, nhất là trong quá trình chuyển đổi kinh tế, xây dựng luật pháp và giáo dục?
Đại sứ Vizi László: Cảm ơn bạn đọc từ TP.HCM. Tôi đã trả lời một phần câu hỏi trước đó. Đúng ngày này 20 năm trước, Hungary tuyên bố về việc thành lập nước CH Hungary, trong đó, là sự tiếp nối tư tưởng của cuộc cách mạng 1956.
Liên quan đến sự tương đồng giữa hai nước, tôi đã đề cập về việc hai nước đã từng phải đấu tranh giành độc lập, tự do. Sự giống nhau nữa là chia sẻ sâu sắc về lịch sử, văn hóa trong việc coi trọng giáo dục, truyền thống gia đình...
Liên quan đến kinh nghiệm, tôi muốn nói rằng, với Hungary, Việt Nam là một nước nhận ODA quan trọng. Hungary trở thành thành viên của OECD từ 1996 và thành viên của EU từ 2004. Việc hỗ trợ phát triển và chuyển giao viện trợ là điều hợp đạo lý và đúng khung pháp lý từ các nước thành viên OECD cho các nước kém phát triển hơn. Và Hungary chọn Việt Nam là điểm tập trung ở châu Á.
Chúng tôi có 2 dạng cung cấp ODA cho Việt Nam: một là những cam kết theo thời hạn và hai là các khoản viện trợ không hoàn lại. Chúng tôi cho rằng cần tìm các dự án ở Việt Nam phản ánh lợi thế cạnh tranh của chúng tôi trong khối các nhà tài trợ. Ở đó, Hungary có thể thể hiện sự phát triển, kinh nghiệm cũng như chuyển đổi kinh tế của mình. Hungary không nằm ở diện có thể cung cấp lượng viện trợ khổng lồ vào thời điểm này. Chúng tôi không thể so sánh về tiềm lực tài chính cho hỗ trợ phát triển với các nước cung cấp viện trợ truyền thống trong EU cũng như trên thế giới.
Chúng tôi không thể so sánh về khối lượng sử dụng ODA với các nước tài trợ truyền thống ở châu Âu hay các nước phát triển cao khác trên thế giới. Nhưng chúng tôi thực sự nghĩ rằng tác động của những dự án này đến sự phát triển là rất đáng kể.
Chúng tôi có những dự án dài hơi về trao đổi kinh nghiệm quản lý sự chuyển đổi với Việt Nam. Chúng tôi đã xác định một số cơ quan của Việt Nam như Kiểm toán nhà nước, Tổng cục thống kê, Bộ Tài chính và Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Chúng tôi thường xuyên cử các đoàn chuyên gia Hungary đến trao đổi các chủ đề chính như quản lý tài chính công, thống kê cũng như phương pháp kiểm toán nhà nước ở Hungary. Chúng tôi cho rằng tập trung vào một số cơ quan như tôi đã đề cập sẽ hữu ích cho việc phát triển thể chế của một nước Việt Nam hiện đại và hữu ích cho quá trình chuyển đổi kinh tế của các bạn.

Đại sứ Vizi László và nhà báo Bùi Việt Lâm trong cuộc Bàn tròn trực tuyến. Ảnh: Lê Anh Dũng
Liệu pháp sốc hay từng bước?
Nhà báo Việt Lâm: Các kinh tế gia đã đúc kết hai mô hình của các nền kinh tế chuyển đổi, đó là liệu pháp sốc với thay đổi đến ngay sau một đêm kiểu Liên Xô và chuyển đổi từ từ kiểu Trung Quốc, Việt Nam. Sự chuyển đổi của Hungary mang tính triệt để và toàn diện theo liệu pháp "sốc" nhưng có vẻ ít sốc hơn về mặt an sinh và tâm lý xã hội như các nước k hác? Vậy các ông đã làm được điều đó như thế nào?
Đại sứ Vizi László: Cám ơn bạn vì câu hỏi. Đúng như vậy. Một cách nào đó, người Hungary đã tiến đến cuối thập kỷ 1980, đầu thập kỷ 1990 trong tình trạng đi giữa hai phương cách. Theo tôi thành tích mà người Hungary đạt được trong giai đoạn đầu chuyển đổi là nhờ vào cách tiếp cận.
Không may, có lẽ cùng với một số vấn đề thực tế khác, cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế quốc tế hiện nay đã gây nhiều khó khăn ở mọi nơi trên thế giới, trong đó có Hungary. Bây giờ tôi có vẫn có thể nói với bạn rằng nhờ vào kết quả của một hệ thống các biện pháp khắc phục khá phức tạp mà chính phủ Hungary bắt đầu tiến hành từ mùa xuân năm ngoái, và một phần nhờ vào tình hình kinh tế thế giới đang khởi sắc hơn, hy vọng chúng tôi có thể ngăn chặn sự xuống dốc tồi tệ hơn của nền kinh tế Hungary.
Nhưng không may là năm 2009 này, dự đoán tăng trưởng của chúng tôi khoảng dưới 6,7%. Chúng tôi không phải trường hợp duy nhất, nhiều nước ở châu Âu và trên thế giới cũng gặp những vấn đề tương tự. Nhưng chúng tôi hy vọng năm sau sẽ là năm hồi phục, ước tính tốc độ tăng trưởng GDP của Hungary sẽ là 0,9%, cũng có nhiều dự đoán bi quan hơn nhưng chúng tôi vẫn hy vọng ngăn chặn được sự xuống dốc sâu hơn.
Và đó là câu trả lời cho câu hỏi về liệu pháp sốc và chuyển đổi êm ả, đồng thời tôi cũng cung cấp thêm thông tin về tình hình kinh tế của Hungary.
Nhà báo Việt Lâm: Cho dù là chuyển đổi kiểu liệu pháp sốc hay chuyển đổi từng bước thì rõ ràng, sự chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường với những nước như Hungary hay Việt Nam cũng không hề dễ dàng. Từ bỏ được những quán tính của thời bao cấp đôi khi là cả một quá trình lột xác đầy khó khăn và ngay ở VN, sau 20 năm ĐỔI MỚI, thi thoảng chúng tôi vẫn chứng kiến di chứng của thời bao cấp còn tồn tại đâu đó trong tư duy và cách làm. Chuyện này có xảy ra trong quá trình chuyển đổi ở Hung không? Hungary đã đấu tranh như thế nào để từ bỏ được những quán tính đó?
Đại sứ Vizi László: Có một câu nói thế này: Có thể thay đổi hệ thống chính trị trong 6 tháng, thay đổi hệ thống kinh tế trong 6 năm, nhưng thay đổi suy nghĩ có khi phải mất đến 6 thập kỷ. Trong câu hỏi của cô, tôi nhìn thấy một số điểm tương đồng trong quá trình mà Hungary đã trải qua mà Việt Nam đang và sẽ đi qua.
Nhưng đương nhiên, trong việc tăng cường năng lực của các cơ quan, trong việc thông qua các luật và quy định cần thiết, như Việt Nam đã làm trước khi gia nhập WTO năm 2007, các luật đã được ban hành là rất quan trọng và thực sự giúp ích cho sự chuyển đổi của Việt Nam.
Cần nói lại rằng các cơ quan, như tôi có đề cập ở trên là Kiểm toán nhà nước Việt Nam đã lập ra một số cơ quan khác nhau phục vụ cho việc định hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Và tất nhiên là hoạt động của các cơ quan này phải được hoàn thiện.
Một vấn đề đã và vẫn đang làm đau đầu các nước Trung và Đông Âu hiện nay, cũng là vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam, đó là nạn tham nhũng. Khi bắt đầu bàn bạc về việc hợp tác giữa Liên minh châu Âu EU và Việt Nam, đã có một số dự án có sự tham gia của một số nước thành viên EU và Việt Nam, tập trung cụ thể vào hiện tượng này. Rất khó để triệt tiêu nạn tham nhũng đang ngăn cản sự phát triển kinh tế và xã hội ở Việt Nam và các dự án này đã hoạt động thành công.
Thay đổi tư duy quan trọng hơn làm luật
Nhà báo Việt Lâm: Vậy theo ông, đâu là bài học lớn nhất chúng tôi có thể học được từ sự chuyển đổi của Hungary? Theo ông, để chuyển đổi kinh tế thành công, điều gì là cần thiết nhất? Là bộ máy lãnh đạo, ý tôi là tầm nhìn và trí tuệ của những người lãnh đạo, những chính sách tốt hay sự đồng thuận xã hội?
Đại sứ Vizi László: Tôi nghĩ là tất cả các nhân tố đó đều quan trọng. Các bạn cần một thể chế mạnh, sự minh bạch trong xã hội, các bạn không chỉ cần có luật, quy định, lệnh, mà chúng phải được thực hiện tốt. Và tất nhiên bộ máy lãnh đạo cũng rất quan trọng. Nhưng tôi nhấn mạnh vào hạ tầng cơ sở để phát triển, đây là vẫn một vấn đề đối với việc này trong điều kiện nhiều năm chiến tranh, chính phủ các bạn cũng đang hết sức nỗ lực để thay đổi tình hình.
Bản thân tôi đã tham gia phiên khai mac kỳ họp Quốc hội mấy hôm trước, hôm 20/10, và đã nghe báo cáo của chính phủ Việt Nam về những thành tích của năm 2008, 2009 cũng như dự đoán cho năm tới. Và tôi nghĩ là những nỗ lực là rõ ràng, và các bạn cần thể chế mạnh hơn, minh bạch hơn, chú ý hơn vào hạ tầng cơ sở thì các bạn sẽ đạt được mục tiêu.

Đại sứ Vizi László và nhà báo Việt Lâm trong cuộc Bàn tròn trực tuyến. Ảnh: Lê Anh Dũng
Nhà báo Việt Lâm: Cho dù thể chế chính trị - xã hội khác biệt, nhưng theo nhiều nhà phân tích, một đặc điểm chung dễ nhận thấy của quá trình chuyển đổi tại các nước xã hội chủ nghĩa là chuyển đổi nền kinh tế gắn liền với chuyển đổi quyền sở hữu, từ sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân. Và mặt trái của nó là quá trình tư nhân hóa nhiều khi trở thành quá trình chiếm đoạt tài sản công, nảy sinh lớp nhà giàu mới chỉ sau một đêm mà tiền thân là những người nắm đặc quyền đặc lợi trong hệ thống cũ, gây nên những bất công và bẩt ổn xã hội. Hungary có phải đối mặt với tình trạng này? Nghịch lý đó đã được giải quyết ra sao?
Đại sứ Vizi László: Đây quả là một câu hỏi khó và nhạy cảm. Đó là một biểu hiện của việc tích lũy của cải rất nguyên thủy, quốc gia nào cũng phải trải qua một quá trình như vậy, và điều này cũng đang diễn ra ở Việt Nam. Rõ ràng là nó đang gây ra những vấn đề mà cô đề cập đến, chính vì thế mà những nỗ lực chống tham nhũng là rất, rất quan trọng. Ví dụ bây giờ các bạn đã có luật, những chỉ luật thôi thì chưa đủ, điều cần hơn cả là việc thực thi luật và cả sự thay đổi tư duy. Người dân cần phải từ bỏ cái truyền thống cũ là cái gì cũng phải trả tiền, kể cả những thứ đáng ra phải miễn phí.
Còn tôi nghĩ quá trình tư hữu hóa là không thể tránh khỏi. Các con số cũng tỏ ra đầy triển vọng, nếu tôi không nhầm thì hiện nay chỉ có 35% trong GDP của các bạn là do khu vực nhà nước đóng góp, 65% còn lại là do khu vực tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp. Vẫn có những doanh nghiệp nhà nước sẽ sớm được tư hữu hóa. Đây là một quá trình cần thiết.
Nói về việc chia sẻ kinh nghiệm, tôi cũng rất vui được thông báo là tôi đã được gặp Chủ tịch HĐQT Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước Việt Nam [Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh], một cơ quan về cơ bản là tương tự như cơ quan phụ trách về tư nhân hóa ở Hungary. Ông ấy sẽ dẫn đầu một đoàn đại biểu của chính phủ Việt Nam sang học hỏi kinh nghiệm trong quá trình tư nhân hóa ở Hungary.
Tôi nghĩ các bạn có thể học hỏi từ sai lầm và thành tựu của quá trình tư nhân hóa ở Hungary. Tôi cũng biết rằng có một kế hoạch soạn thảo báo cáo gửi các lãnh đạo Việt Nam trong đó so sánh các phương pháp tư nhân hóa khác nhau ở một số nước, và hy vọng là phương pháp và kinh nghiệm tư nhân hóa của Hungary với cả mặt tích cực và tiêu cực sẽ là một nguồn tham khảo hữu ích cho Việt Nam trong tương lai.
Bí quyết tạo nên kì tích giáo dục
Nhà báo Việt Lâm: Rất cảm ơn chia sẻ của ông. Nhìn vào lịch sử của Hungary, rất nhiều người ngạc nhiên rằng với dân số ít như vậy mà nước ông đóng góp cho thế giới 15 người đoạt giải Nobel. Điều gì đằng sau kỳ tích đó?
Đại sứ Vizi László: Cảm ơn bạn đã trích dẫn số liệu đó. Có thể nói tính trung bình đầu người thì số lượng giải Nobel của Hungary đúng là vô địch thế giới. Theo tôi biết thì khó nước nào có thể có tỉ lệ người đoạt giải Nobel trên dân số nhiều như Hungary. Lý do thì có nói, Hungary là một đất nước có truyền thống lịch sử và văn hóa rất lâu đời.
Như tôi đã nói, trong suy nghĩ của người Hungary, giáo dục là một yếu tố rất quan trọng. Vì vậy các cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng ở Hungary đạt được chất lượng quốc tế rất cao, có lẽ cũng là lý do ngày càng có nhiều sinh viên Việt Nam và quốc tế chọn du học ở các trường đại học Hungary, một phần là do đẳng cấp học thuật, một phần là do chi phí tương đối không quá đắt đỏ so với mặt bằng chung.
Nhà báo Việt Lâm: Tôi được biết nền giáo dục Hungary là sự pha trộn hài hoà giữa nhiều học thuyết, trường phái về giáo dục, vậy làm thế nào để giáo dục của nước ông thành công đến vậy? Ở Việt Nam hiện nay, chúng tôi vẫn đang tranh cãi về triết lý, học thuyết cho giáo dục, một số người muốn học Mỹ, số khác muốn học châu Âu...
Đại sứ Vizi László: Tôi không phải là một chuyên gia về học thuyết giáo dục nên tôi sẽ không đi vào chi tiết trong câu hỏi này. Bạn nói là nhiều người muốn học theo Mỹ hay châu Âu, nhưng tôi nghĩ rốt cuộc thì, nhiều người ở Việt Nam cũng đã hiểu ra, rằng các bạn phải xây dựng các trường đại học có chất lượng đào tạo tốt. Vì thế tôi nghe nói chính phủ Việt Nam sẽ gửi ra nước ngoài khoảng 10.000 người học tiến sĩ và 10.000 tiến sĩ khác đào tạo trong nước để xây dựng trong tương lai những trường đại học thực sự đẳng cấp hàng đầu về chất lượng đào tạo.
Bạn không thể lúc nào cũng phụ thuộc vào giáo dục nước ngoài. Nếu bạn muốn phát triển kinh tế xã hội thành công trong thế kỷ 21 này, bạn phải thực sự tạo được những cơ sở đào tạo đại học cao đẳng của riêng mình với những phẩm chất và giá trị học thuật cao để có khả năng đào tạo thế hệ lãnh đạo kế cận cho Việt Nam, có thể là các chính trị gia, các chuyên gia kinh tế...

Đại sứ Vizi László trong cuộc Bàn tròn trực tuyến. Ảnh: Lê Anh Dũng
Nhà báo Việt Lâm: Như ông biết, giáo dục Việt Nam đang đối mặt với khủng hoảng, và một số người cho rằng do lương giáo viên quá thấp. Nhưng theo tôi biết, lương giáo viên ở Hungary cũng khá thấp so với các ngành nghề khác, nhưng họ vẫn làm tốt công việc của mình. Vậy tại sao lương thấp như vậy mà họ vẫn làm tốt?
Đại sứ Vizi László: Tất nhiên trong xã hội Hungary hiện nay không phải là nghề được trả lương cao nhất, nhưng lương chỉ là một khía cạnh, một khía cạnh khác là sự công nhận ngày càng tốt hơn của xã hội về vai trò của người giáo viên, giảng viên, những người làm trong ngành giáo dục. Cũng phần do thực tế là có rất nhiều học giả nổi tiếng tầm cỡ quốc tế người Hungary đã giành được giải Nobel, nên giáo dục và khoa học đang ngày càng có vai trò quan trọng trong suy nghĩ của người Hungary. Vì vậy, lương chỉ là một chuyện, suy nghĩ là một chuyện khác. Bên cạnh đó, còn phải tính đến việc các trường đại học, các cơ sở đào tạo được trang bị ra sao, được vi tính hóa ra sao...
Nhà báo Việt Lâm: Tức là sự công nhận của xã hội, thái độ trân trọng của xã hội với thầy cô nói riêng, giới trí thức nói chung đã tạo nên động lực.
Đại sứ Vizi László: Bạn biết không, mỗi khi có người Hungary nào đi du lịch đến Hà Nội và hỏi tôi phải đi chỗ nào đầu tiên, tôi luôn nói là Văn Miếu, nơi mà bạn có thể thấy một nghìn năm trước đây, vai trò của giáo dục trong suy nghĩ của người Việt Nam như thế nào. Vì thế tôi nghĩ là sẽ rất hữu ích nếu thỉnh thoảng chúng ta nhìn lại lịch sử xem tổ tiên mình đã coi trọng giáo dục, văn hóa, khoa học... và Văn Miếu là một ví dụ rất tốt. Vì thế tôi luôn đưa mọi người đến Văn Miếu, nơi mà cả kiến trúc và câu chuyện ẩn chứa sau kiến trúc ấy đều tuyệt diệu.
Không được đánh mất khát vọng độc lập
Nhà báo Việt Lâm: Là một nước có đường biên giới trên bộ dài với các nước láng giềng (~2.300km), Hungary có thuận lợi và khó khăn gì trong việc bảo vệ biên giới, lãnh thổ cũng như trong việc thúc đẩy giao lưu, mậu dịch với các nước láng giềng, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng hiện nay?
Đại sứ Vizi László: Trong lịch sử, Hungary từng có 5 nước láng giềng, phía Bắc là Séc và Slovakia, phía Đông Bắc là Liên Xô, phía Đông là Romania, phía Nam là Nam Tư và phía Tây là Áo. Những biến động lịch sử của châu Âu đã biến 5 nước này giờ trở thành 7 nước, một số láng giềng mới đã trở thành các quốc gia mới. Vì thế hiện nay, láng giềng phía Bắc của chúng tôi là Slovakia, phía Đông Bắc là Ukraine, phía Đông là Romania, phía Nam thì có 3 láng giềng: Serbia, Slovenia và Croatia, và phía Tây là Áo. Như vậy là những thay đổi lịch sử có những tác động đến biên giới.
Trong việc bảo vệ biên giới của mình, chúng tôi may mắn là có các quốc gia hữu hảo xung quanh, một số cũng như chúng tôi, là thành viên của Liên minh châu Âu EU, một số thì chưa nhưng cũng đang vận động để gia nhập EU như Croatia. Nói chung là chúng tôi duy trì các quan hệ song phương tốt về kinh tế và xã hội. Thỉnh thoảng cũng xảy ra tranh chấp, như ở rất nhiều nơi khác, thì chúng tôi cố gắng hòa giải các tranh chấp này một cách hòa bình.
Nhà báo Việt Lâm: Hungary đã từng bị đế chế Ottoman - Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng (150 năm), là một phần của Đế chế Áo - Hung (~400 năm), ở cạnh đế chế Nga và sau này là Liên Xô. Để tồn tại và bảo tồn bản sắc của dân tộc, Hungary đã luôn phải "biết cách chung sống" [hòa bình hoặc phi hòa bình], với các nước láng giềng lớn hơn nhiều lần. Đâu là những bài học trong ứng xử với các nước lớn láng giềng của Hungary trong lịch sử và hiện tại?
Đại sứ Vizi László: Chúng tôi đã chịu sự chiếm đóng của đế chế Ottoman trong 150 năm, Việt Nam trong lịch sử của mình cũng đã bị một nước lớn đô hộ một nghìn năm nhưng các bạn vẫn không đánh mất khát vọng giành độc lập. Tôi nghĩ bảo tồn văn hóa được liên quan rất nhiều đến bảo tồn tiếng nói, ngôn ngữ, vì đó là một thành tố quan trọng của bản sắc dân tộc. Đối với Hungary, đó cũng là một điều vô cùng quan trọng trong lịch sử rất dài của đất nước chúng tôi.
Chúng tôi rất may được sống trong một điều kiện quốc tế nơi chúng tôi là một quốc gia độc lập, không bị cường quốc nào xâm chiếm và chúng tôi thực sự phải cố gắng phấn đấu để có được các mối quan hệ láng giềng tốt đẹp với cả những nước đã từng xâm chiếm chúng tôi.
Một người yêu Việt NamNhà báo Việt Lâm: Thật thú vị khi có một số độc giả tò mò muốn tìm hiểu về cuộc sống của ông ở Việt Nam. Ông thấy điều gì đặc biệt ấn tượng khi đến với đất nước của chúng tôi?

Đại sứ Vizi László: Hà Nội là một thành phố vô cùng quyến rũ, cả tôi, vợ tôi, các con tôi, chúng đang sống ở châu Âu nhưng thỉnh thoảng có đến thăm chúng tôi, đều yêu quý thành phố này. Chúng tôi thích cách sống của con người ở đây, cách họ thư giãn, cách họ dậy từ 5h sáng để tập thể dục; thích những ngôi nhà có kiến trúc thực dân cũ, đặc biệt là xung quanh hồ Hoàn Kiếm; thích thấy có rất nhiều hồ và công viên trong thành phố. Có thể chị sẽ thấy ngạc nhiên, nhưng thỉnh thoảng vào cuối tuần, khi có thời gian rảnh, tôi cũng đạp xe quanh Hồ Tây hay một số công viên vì tôi thấy những nơi đó rất đáng để khám phá.
Khám phá thành phố bằng xe đạp mang lại cảm giác rất khác biệt, thỉnh thoảng bạn có thể xuống xe, đi dạo bộ, ngắm nhìn cuộc sống hàng ngày của mọi người, cách họ cư xử, cách họ ăn uống ở ngoài, món phở bò buổi sáng, cách họ đi chùa, cách họ tập thể dục buổi sáng... Đó là những điều tôi thực sự thích ở Hà Nội. Mặc dù giao thông quá đông đúc với hàng nghìn xe máy và ôtô, nhưng tôi cảm thấy cách sống êm đềm và thư thái của người dân ở thành phố này đặc biệt tốt cho tôi.
Nhà báo Việt Lâm: Ông có phải tín đồ của du lịch không?
Đại sứ Vizi László: Tôi đã đến thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế của Việt Nam, khá thường xuyên. Tôi cũng đi lên phía Bắc đến Lào Cai, Sapa, tất nhiên là nhiều lần đến Hải Phòng, Hạ Long. Ở miền Trung thì tôi đã đến Nha Trang, Hội An, Huế, Đà Nẵng, miền Nam thì ngoài thành phố Hồ Chí Minh còn có Cần Thơ, Phú Quốc, Vũng Tàu, Cái Bè, Trà Vinh. Có thể nói là tôi cũng đi được đến một nửa số tỉnh của Việt Nam, và tôi hy vọng là trong thời gian còn lại làm đại sứ ở đây, tôi có thể đi đến một nửa số tỉnh còn lại.
Nhà báo Việt Lâm: Một người bạn nói với tôi rằng ông là một người rất yêu Việt Nam?
Đại sứ Vizi László: Cám ơn nhiều, đúng như vậy.
Nhà báo Việt Lâm: Anh ấy còn gửi cho tôi một bức ảnh ông chụp chung với một người đẹp Việt Nam.
Đại sứ Vizi László: Vậy hả? Có thể là trong một cuộc thi hoa hậu ở thành phố Hồ Chí Minh. Thỉnh thoảng trong công việc ngoại giao tôi cũng hay được mời đến những sự kiện như vậy và nếu có thời gian thì tôi cũng tham gia.
Nhà báo Việt Lâm: Vậy ông nghĩ thế nào về phụ nữ Việt?
Đại sứ Vizi László: Đây có lẽ là câu hỏi vừa khó nhất vừa dễ nhất trong cuộc trò chuyện của chúng ta hôm nay. Tất nhiên là họ rất quyến rũ và xinh đẹp, làm quen và nói chuyện với họ rất vui.
Nhà báo Việt Lâm: Ông thấy ẩm thực Việt thế nào?
Đại sứ Vizi László: Tôi thích phở bò lắm, tôi thích nem Sài Gòn, các món rau trộn và hải sản, tôi còn biết một số từ tiếng Việt như "mực", "tôm", "cá". Đôi khi rất khó đọc đúng dấu và có thể nói nhầm thành điều mình không muốn nói nên tôi vẫn chưa có đủ can đảm học tiếng Việt một cách bài bản, vì thỉnh thoảng tôi thấy một vài đồng nghiệp, họ nghĩ là họ nói tiếng Việt tốt thế mà vẫn mắc những lỗi rất cơ bản.
Nhà báo Việt Lâm: Còn rất nhiều câu hỏi song thời gian có hạn nên không thể trả lời hết được. Ông muốn chia sẻ điều gì với độc giả của Vietnamnet/TuanVietNam?
Đại sứ Vizi László: Trước hết, tôi cảm ơn rất nhiều vì những câu hỏi cho thấy người Việt Nam hiểu biết rất nhiều về Hungary và họ cũng mong muốn biết nhiều hơn nữa. Với tư cách là đại sứ Hungary tại Việt Nam, tôi mong muốn thúc đẩy thương mại, hợp tác kinh tế, đầu tư từ Hungary, thêm nhiều vốn ODA, thêm nhiều trao đổi văn hóa và giáo dục và nói chung là đưa hai dân tộc chúng ta lại gần nhau hơn.
Xin cảm ơn Đại sứ!
Tuần Việt Nam