Từ những ý tưởng mới vì chủ quyền biển đảo Việt Nam đến những vấn đề thời sự nóng bỏng, nhà báo Đinh Phong (nguyên Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh) đề cập đến chuyện ứng xử với thông tin "nhạy cảm".
Quỹ bảo tồn tư liệu về biển đảo Việt Nam
- Thưa nhà báo Đinh Phong, xuất phát từ đâu ông có ý tưởng về việc Việt Nam cần có quỹ vận động vì Trường Sa - Hoàng Sa?
- Tôi có quen nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đình Đầu. Trong nhiều lần, bác có cho tôi xem những tấm bản đồ rất quý giá mà bác sưu tập được về đất liền, biển đảo, trong đó có những bản đồ rất cổ, khẳng định Hoàng Sa - Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Bác Đầu cũng giữ trong tay rất nhiều tài liệu chứng minh được chủ quyền của nước ta về biển đảo là có thực, từng tồn tại trong nhiều năm. Thế nhưng, bác Đầu nay đã ở tuổi cổ lai hy rồi.
Tôi đề nghị nên có một cái quỹ, để chúng ta có chi phí nhất định để cử những người trẻ hơn học hỏi, tiếp thu từ bác Đầu, tiếp tục làm công việc mà bác đang làm.
Thứ hai nữa là chúng ta sẽ in ấn rộng rãi những tư liệu của bác Đầu để nhân dân và lớp trẻ có bằng chứng xác thực khi nói về tổ quốc, biển đảo của đất nước mình.
Thứ ba nữa là từ quỹ ấy, chúng ta cử thêm người đi ra những nước mà trước kia đã từng xâm lược, truyền đạo, buôn bán ở ta, chắc chắn họ có nhiều tư liệu, bản đồ về biển đảo. Chúng ta thu thập, làm kho tư liệu được tổ chức, sắp xếp tốt hơn, để thêm một lần nữa chứng minh rằng Hoàng Sa - Trường Sa là của tổ quốc chúng ta đã được loài người công nhận, có từ 4,5 thế kỷ trước đây chứ không phải từ bây giờ.
![]() |
| Nhà báo Đinh Phong (Ảnh: Bùi Dũng) |
- Ông có thông tin cụ thể nào về việc có nhiều tư liệu khác về biển đảo Việt Nam nói chung và biển Đông nói chung có thể nằm ở những nơi lưu trữ ở những nước từng có quan hệ với Việt Nam từ xa xưa đến nay?
- Như người Pháp vào xâm lược nước ta, ngoài việc chiếm Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng hay Sài Gòn thì đều là phục vụ cho việc xâm chiếm của họ thôi, nhưng chắc chắn họ có các công trình nghiên cứu về biển đảo, từ đo độ sâu, độ xa, quy mô, biên giới thế nào.
Đến nước ta không chỉ có Pháp mà còn Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha... Họ đến để truyền giáo, thông thương, làm ăn buôn bán, mà để thuận lợi thì họ cần những công trình nghiên cứu về nước đó. Chẳng hạn người Pháp, họ có công trình rất kỹ về biển đảo mà đến nay, chúng ta đã có được; thì những nước khác, chắc chắn họ cũng có. Chỉ có điều chúng ta dự đoán là có, nhưng không có ai đi, không có kinh phí để có thể lục tìm lại những tư liệu, sách vở đó.
Đây là việc làm mà loài người tiến bộ chắc chắn sẽ đứng về phía Việt Nam, vì tính chất bảo vệ chủ quyền cho mỗi dân tộc, là trách nhiệm của cả loài người. Chỉ trừ những kẻ đi xâm lược, còn những người có thiện chí với chúng ta, mong muốn bảo vệ quyền lợi của chúng ta mà bây giờ lại có tổ chức của Liên hợp quốc thì chắc chắn họ sẽ ủng hộ việc này.
- Ông có nghĩ đến việc đặt một cái tên cụ thể nào cho quỹ này?
- Đây không phải cuộc bảo vệ mà là một quỹ sưu tầm. Tôi cho rằng có thể gọi là Quỹ bảo tồn tư liệu về biển đảo Việt Nam. Như vậy là đúng tính chất. Đây là chúng ta phát hiện và bảo tồn tư liệu về biển đảo VN, còn cuộc đấu tranh để giành chủ quyền thì phải trên nhiều lĩnh vực.
- Có ý kiến cho rằng việc lập quỹ này không chỉ có phần nhân dân đóng góp mà nguồn chính yếu là từ sự đóng góp của nhà nước, là trách nhiệm của nhà nước. Ông nghĩ sao?
- Đây là vấn đề bảo tồn chủ quyền quốc gia thì sẽ do nhà nước hỗ trợ là chính, nhà nước phải đứng ra chủ trì quỹ này; còn nhân dân, với lòng yêu nước của mình chắc chắn người ta sẽ đóng góp.
Đã lập quỹ thì nguyên tắc là phải có ban quản trị và ban này sẽ quyết định dùng quỹ vào những công việc gì.
Phải biết lên tiếng
- Ngoài ý tưởng về thành lập quỹ, ông còn đưa ra một đề xuất: Khi báo chí địa phương hay trung ương của Trung Quốc có những thông tin sai lệch về chủ quyền của Việt Nam hay các vấn đề khác về Việt Nam nói chung thì các cơ quan báo chí địa phương, báo chí thuộc các ban, ngành cần lên tiếng tương ứng để phản bác lại các luận điệu sai trái. Theo ông, thời gian qua các cơ quan báo chí - truyền thông Việt Nam có lơ là với việc này?
![]() |
Những ý kiến của chúng ta nói ra mà họ chưa nghe thì chúng ta kiên trì tiếp tục nói. Đây không phải chúng ta sợ họ, né họ mà việc nói đến đâu, nói thế nào, đó là một nghệ thuật.
- Ví dụ có một vấn đề vừa qua có nhiều kiến cho rằng khi ngư dân của chúng ta ra khơi bị bắt giữ, bị đối xử tàn bạo thì chúng ta đã có phản ứng nhưng hơi chậm. Đây là vấn đề về phía đối ngoại cũng như về phía báo chí. Nhìn nhận của ông ra sao?
- Tôi cho rằng phải kịp thời hơn. Đây là chúng ta thông tin cho nhau và kiến nghị chứ không phải là phản đối hay là chủ trương. Có thể thông tin của chúng ta từ các địa phương về là rất chậm, còn tại sao chậm thì phải tìm hiểu.
Đã là sự thật thì việc gì cũng sẽ đưa...
- Có nhiều thông tin hiện nay liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo được cho là chưa vội đưa ra hoặc không nên đưa ra. Ở một số lĩnh vực khác cũng có những thông tin được cho là "nhạy cảm", chưa thể hoặc không được công bố. Ông quan niệm thế nào về thông tin "nhạy cảm" - từ mà chúng ta gần đây hay nhắc đến trước nhiều vấn đề hiện nay?
- Có những cuộc tọa đàm, hội thảo chỉ là thông tin nội bộ thôi, không nên đưa ra ngoài. Chữ mà ta dùng "nhạy cảm" mà ta dùng là thế này: Có những thông tin làm cho quan hệ hữu nghị, đoàn kết được tăng cường thì đó là những thông tin thuận. Có những thông tin chưa có đủ dữ liệu mà mình nói lên, ảnh hưởng đến quan hệ hai nước thì đó là nhạy cảm, cần cẩn trọng. Nhạy cảm tức là anh phải tôn trọng vấn đề đó và xem nó có ảnh hưởng đến sự đoàn kết, tình hữu nghị giữa hai bên không thì hãy nêu lên. Nêu lên mà chưa thẩm định, kiểm tra thì có thể thông tin ấy làm xúc phạm, ảnh hưởng đến hai dân tộc.
- Nhưng người ta sẽ băn khoăn thông tin đến mức nào thì thuộc về thông tin "nhạy cảm", nhất là trong chuyện thông tin về tham nhũng, xét xử vụ này vụ kia, nhất là khi có liên quan đến những người có chức quyền hay thông tin về đường lối chính sách, quan hệ bang giao, về các vấn đề lịch sử v.v... Và vì sợ đụng vào từ "nhạy cảm" nên với người làm báo rất dễ dẫn đến việc "tự kiểm duyệt". Theo ông chúng ta có lạm dụng từ "nhạy cảm" và người làm báo trong giai đoạn hiện nay có nên thường xuyên chú ý đến việc "tự kiểm duyệt" mình?
- Chữ nhạy cảm đưa ra ở đây là không đúng. Nhạy cảm không phải hễ không muốn đưa tin, không muốn công bố thì cho đó là thông tin nhạy cảm - hiểu như thế là sai. Ở đây thông tin đưa ra phải đảm bảo: Thứ nhất, thông tin ấy có chính xác không. Thứ hai là có phù hợp với điều kiện, thời điểm, phục vụ cho lợi ích chung hay không.
Chúng ta tuyên truyền thì phải chú ý đến hai yếu tố là thông tin phải chính xác và thông tin đó đưa lúc nào thì phù hợp, có ảnh hưởng đến an toàn, an ninh xã hội, có làm cho xã hội phát triển hay không. Phải cân nhắc đến cái đó chứ không phải cân nhắc có "nhạy cảm" hay không.
Đã là sự thật thì việc gì cũng sẽ đưa, nhưng đưa vào lúc nào thì lại là chuyện khác. Người lãnh đạo thì cần cẩn trọng trong việc vấn đề này đưa ngay, vấn đề kia chưa đưa hay cần bổ sung thêm thông tin thì đưa.
Đó là sự chỉ đạo tuyên truyền mà chúng ta phải biết rằng chúng ta là cơ quan báo chí cách mạng, thông tin mà chúng ta đưa ra phải có lợi cho cách mạng, cho dân tộc.
Cũng như đời tư của chúng ta thôi. Chúng ta cũng có nhiều chuyện lắm, nhưng không phải chuyện gì cũng đưa ra ngoài được cả đâu. Rất đông anh em phóng viên chúng ta cũng như mọi người thường có những chuyện riêng tư, nhảm nhí; nhưng điều đó không có quan hệ với việc chúng ta đang làm này thì không nên đưa thôi. Không phải cứ phải moi tất cả những chuyện xấu của mọi người đưa ra ngoài!
- Ông cho rằng người viết báo, làm báo ở Việt Nam nên đem cụm từ "tự kiểm duyệt" ra sử dụng trong trường hợp nào?
- Chúng ta không có phóng viên tư nhân, không có phóng viên nước ngoài. Chúng ta đều là phóng viên báo chí cách mạng cả. Bất cứ một phóng viên nào trước một thông tin cũng cần hiểu rõ là việc này nên thông tin chưa và thông tin vào lúc nào. Yếu tố quan trọng hàng đầu là phải chính xác. Phóng viên phải cân nhắc có nên viết hay không nên viết và việc đó có lợi cho ai. Cuối cùng ông tổng biên tập cho đưa thông tin ấy nên, quyết định nên đưa hay không thì đó là trách nhiệm của ông ấy. Từ phóng viên đến người tổng biên tập có tiếng nói quyết định trên cơ sở xem xét thông tin đó có chính xác và có đúng thì điểm để công bố hay không.
- Đã trải qua hàng chục năm làm báo, nhiều năm là Chủ tịch Hội Nhà báo TPHCM, đã bao giờ ông phải "tự kiểm duyệt" cho những bài viết của mình? Nếu trước một thông tin được cho là "nhạy cảm" nhưng ông cho rằng thông tin đó cần phải chuyển đến bạn đọc ngay lập tức thì khi ấy không sẽ xử sự ra sao?
- Có nhiều kỷ luật về thông tin lắm. Ngày xưa tôi là phóng viên chiến trường thì tôi biết có nhiều trận mình thua chứ không phải trận nào mình cũng thắng. Có lúc cần phải cổ động nhân dân mà mình đem trận thua ra để thông tin thì sẽ làm ảnh hưởng đến chiến trận. Cho nên trận thua đó mình có thể kể, rút kinh nghiệm vào lúc khác.
Còn bây giờ, khí thế của nhân dân đang đánh địch như thế, mình không cần thông tin những trận thua hay thiệt hại nặng của mình. Ví dụ tôi không đưa số liệu anh em mình hy sinh. Tôi không đưa cái đó chứ không phải tôi đưa tin cả trung đoàn anh em đều sống sót. Đó không phải giấu sự thật. Cái đó vẫn chính xác, mình cần điều tiết.
![]() |
Cụ thể, trận Mậu Thân anh em hy sinh rất lớn. Tôi viết, chúng ta đánh thắng ở đâu, nhưng việc hy sinh cũng là rất lớn. Sau này viết hồi ký tôi nó rằng: Không rõ Phadeev viết thế nào về sự hy sinh của quân đội Xô Viết, nhưng tôi biết, khi đứng trước cửa Mậu Thân, đứng trước cửa Sài Gòn tôi thấy anh em hy sinh rất lớn. Đó là những gì được viết vào lúc chiến trận đã kết thúc và đó là sự đau đau xót mà không ai viết ra được ngay lúc đó.
- Nhưng trong thời đại ngày hôm nay, thời đại của thông tin và truyền thông với biên độ truyền tin mở rộng, tốc độ truyền tin cũng rất nhanh, bên cạnh tính chính xác thì sự nhanh nhạy luôn được tính đến. Có những khi thông tin chưa kịp truyền đi trên báo chí trong nước thì báo chí nước ngoài đã đưa tin hoặc thông tin đã kịp thời lan truyền trên các trang mạng, bằng rất nhiều phương tiện khác nhau. Liệu điều này có tác động gì đến công tác quản lý báo chí và trong cách làm việc, ứng xử của phóng viên, người truyền tin? Và xét ở một góc độ khác nữa là chúng ta cần phải ứng xử thế nào để dư luận không phải băn khoăn, hoang mang rằng tại sao tôi chưa thấy thông tin đó ở báo chí trong nước, thông tin đó thực hư thế nào, cần đối chiếu, kiểm định tính chính xác ở đâu - khi tôi chỉ là một độc giả - công dân bình thường?
- Từ lâu tôi vẫn cho rằng thế này: Không nên cấm thông tin mà nên làm rõ, nên nói thế nào. Bất cứ điều gì, khi có sự kiện xảy ra đều có thể thông tin được. Vấn đề còn lại là cách thông tin thế nào để anh có thể hướng dẫn dư luận đi vào con đường đúng. Bởi vì anh không đưa thông tin ấy ra thì người khác vẫn nghe được, kênh khác vẫn đưa và có thể sai lệch đi. Bây giờ anh đưa thông tin ấy ra theo cách hướng dẫn dư luận rằng việc ấy xảy ra đúng như thế và cần phải hiểu thế này; như thế mới giỏi, chứ không phải ngăn hay cấm thông tin đó.
Thời đại bây giờ anh không nói thì báo khác nói, các kênh thông tin rất nhiều, Internet rất phổ biến. Chính vì vậy mà các luông thông tin đan xen dễ gây hoang mang. Anh đưa thông tin chính thức thì sẽ định hướng được mọi người hiểu nó là thế này chứ không phải thế kia.
Quan điểm của tôi là chẳng có thông tin nào thuộc diện cấm đưa cả, chỉ là cách đưa thế nào để hướng dẫn dư luận cho đúng và đưa vào thời điểm nào là phù hợp.
Bùi Dũng (Tuần Việt Nam)


