1. Hồi còn sinh viên, khi tôi qua đường, nhìn vẻ mặt ngạc nhiên, căng thẳng, rồi xen lẫn một chút xót xa của những người bạn ngoại quốc đang đứng trên lề, lướt máy ảnh qua cảnh kẹt xe của Sài Gòn, dẫu không “máu mủ” với thành phố này nhưng trong đầu mình luôn mơ hồ một nỗi lo, họ đang nghĩ gì về đất nước mình? Cái máy ảnh kia đâu có đơn giản ghi lại một quang cảnh lạ lùng lần đầu họ chứng kiến, nó sẽ thu vào đó bằng chứng về một hoàn cảnh sống, một hiện trạng nhếch nhác mà tôi, “kẻ trong nhà”, chỉ muốn giấu nhẹm đi.
Nhưng khách ngoại quốc thì ngày càng hăng, nhất là mấy anh chị Tây. Không như những chị Nhật, anh Hàn thích mặc dáo dài đi tung tăng dọc trung tâm quận 1, khách Mỹ, Pháp, Anh... dường như luôn có sẵn máu “nhà báo” trong người, thay đổi quan điểm đi du lịch theo hướng “thị dân”.
Đến TP HCM bây giờ, họ không nhất thiết đi tour chợ Bến Thành để mua sắm; không đơn giản đi địa đạo Củ Chi, Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh để chứng kiến dân tộc Việt mình đã anh hùng thế nào, mà chắc chắn phải đi bằng xe máy, luồn lách vào những hang cùng ngõ hẻm ọp ẹp, xì xụp ngồi trên vỉa hè, ăn cho bằng được những món người Sài Gòn đang chuộng, nói cho được những từ “cảm ơn”, “không có chi”... Gọi là để “sống đời sống Việt”.
Trong những cuộc “thám hiểm” này (buồn làm sao) họ lại tiếp tục thu về những tấm hình có bằng chứng rõ ràng về cuộc sống mà mình chỉ muốn là “chuyện trong nhà”. Tránh làm sao khỏi trong đó hiện ra những xác mèo, xác chuột vất vưởng trên đường; những chó, thỏ, bò, bê... không đầu treo trần trụi ngoài phố; những thân người lúc nhúc trong một dòng khói bụi, dưới chân là nước cống lên tới đầu gối; những đường dây điện lè phè rụng xuống tận đầu người đi bộ; những chiếc xe máy tràn sang lối đi bộ... Nếu trong tay họ không phải là máy chụp hình, mà là một chiếc máy quay phim thì chuyện chắc còn ly kỳ hơn...

Tranh Trung Kần (TP.HCM)
2. Bây giờ, sau “mười năm tắm gội” ở Sài Gòn, cũng đi trên những con đường như thế, chứng kiến những cảnh tượng y chang như thế, dần dà tôi phát hiện ra mình trống rỗng khi nhìn thấy những cái ống kính chĩa máy vô “cái áo rách” của Sài Gòn. Dần dà cũng đã được luyện tập thần kinh để “thanh thản”. Mình cười với khách nước ngoài, rồi cũng có lúc đã đứng cùng phía với họ, lắc đầu, nhún vai về xứ sở của mình...
Vì suy cho cùng, tự bản thân tôi thấy cũng đã quen, đã chấp nhận luôn cái thực tế rằng cùng với tốc độ phát triển kinh tế kinh khủng, chiếc áo ấy ngày bị xé ra te tua, thê thảm hơn... Nói nôm na là “đứa con nhà nghèo” đã biết phận nghèo và im lặng chờ chờ 10 năm, 20 năm, 30 năm nữa... “nhà mình giàu”.
“Nếu vậy thì trong hiện tại này “cái nhà Sài Gòn” này được xem là gì?”, một người không sống ở Sài Gòn hỏi tôi như thế. Anh ta chất vấn liệu thế hệ của tôi, hay những người đang sống trong cùng một nơi với mình có thật sự còn yêu thương nó, coi nó là một “cái nhà” hay chỉ tiếp tục bám víu lấy nó - thành phố đi đầu - mà sống theo quy luật số đông?
Tôi không biết. Nhưng tôi chẳng khác gì số đông thiên hạ ở Sài Gòn này đâu. Bây giờ, cứ ngồi một bữa tại quán cà phê, quán ăn, hay chui vào một công sở nào đó, tóm lại, nơi có đông người một chút, thì hiểu thành phố này đang được người dân bày tỏ thái độ như thế nào. Người ta than trời, trách đất mọi nơi, thậm chí những kẻ có giọng lưỡi, giỏi châm biếm còn xỉa xói cho thỏa sức... Chẳng ai còn lòng để mà trăn trở, trắc ẩn vì cái gì đâu, vì “thành phố” suy cho cùng thì nghe rất mơ hồ, như thể hai tiếng “cha chung” vậy.
3.Tuần rồi, tôi có xem chùm kịch “Sài Gòn cười” của Kịch Phú Nhuận có vài chuyện được đặt vấn đề thế này: ... Trong cuộc đua của thỏ và rùa tân thời, trong khi rùa hống hách, ngạo mạn vì giải thưởng cũ (bây giờ nó đã trở thành người mẫu quảng cáo dầu nhớt), thì thỏ lại khốn khổ khốn nạn với thân phận bị người đời chê trách, lại vướng thêm lô cốt, kẹt xe, nước ngập trên đường đua... Rồi trên vỉa hè Sài Gòn một người ngoại quốc gặp nạn, không thấy một “Lục Vân Tiên” thời đại nào mà chỉ gặp toàn hạng móc túi, bủn xỉn, tham lam, nhiều chuyện... Một ngày, toàn thành phố tự nhiên chìm trong biển nước đen ngòm, dân rải đinh chuyển sang đóng cọc, người móc bọc đi móc thêm cá, chôm chỉa...
Xem thì cười nghiêng ngả, xung quanh mình ai cũng nhún vai, cuối cùng là thỏa mãn “đã quá, coi sướng cả người”.
Tác giả nói, đạo diễn nói, diễn viên góp công vào làm hài lòng quí khách, nhưng cũng là để nói cho được tiếng lòng của mình với thành phố... Tiếng nói ấy được lan đi qua những lời khen tặng của báo chí. Rồi từ đó, nó được một số khán giả nào đó đi xem, đón nhận, trở thành một phương thuốc giúp người ta quên đi nhọc nhằn trong đời sống công nghiệp...
Nhưng tan buổi kịch đó, tan những suất kịch tương tự như thế, tôi lại bồn chồn tự hỏi, bây giờ, người Sài Gòn (hay những người đã từng gắn bó và ăn cơm trên mảnh đất Sài Gòn - như tôi) trong cơn “bĩ cực” này, sau những trận chửi rủa, châm biếm, mỉa mai, chỉ còn có biết ngồi cười như thế thôi sao?
Đỗ Duy (TT&VH)