"Yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay hành động bắt giữ ngư dân Việt Nam và phải đền bù thiệt hại cho ngư dân". Đó là tuyên bố của chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam về việc 3 tàu cá của ngư dân Việt Nam lại bị phía Trung Quốc bắt giữ trong lúc họ đang hành nghề trên vùng biển quần đảo Hoàng Sa.
Các cơ quan hữu quan của Việt Nam tiếp tục lên tiếng phản đối, có phản ứng quyết liệt để phía Trung Quốc chấm dứt tình trạng này". Đó là đòi hỏi của nhân dân ta, những người đã từng biết cái giá phải trả cho độc lập và tự do.
Và độc lập tự do không thể chỉ là một khẩu hiệu động viên mà còn là quyền của người dân được sống, được làm việc để có hạnh phúc cho mình và gia đình mình, là quyền làm chủ của từng con người trên đất nước của mình.
Ấy thế mà họ đang hành nghề trên biển thì bị tàu lạ bắt giữ, đánh đập rồi đòi tiền chuộc thì còn đâu đạo lý? Ai đang là bọn cướp biển?
Kể cũng lạ, đường đường là quân đội của một nước đông dân nhất trên trái đất đang nuôi ước vọng siêu cường, xây cả "vạn lý trường thành mới dưới mặt đất" để cất giữ vũ khí hạt nhân, sao có thể làm ngơ cho binh lính được vũ trang tận răng bắt giữ tàu cá của ngư dân đang hành nghề hợp pháp trên vùng biển của họ?! Nào chỉ có bắt giữ suông, mà bắt giữ để đòi tiền chuộc.
Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2009, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi có 6 tàu cá bị tàu Ngư Chính của Trung Quốc bắt giữ để rồi đòi tiền chuộc trên 1 tỷ đồng!
Xin chỉ dẫn ra đây 2 trường hợp của hai người vợ khốn khổ: Bà Phạm Thị Lâm ở thôn 4, Tam Hải - Núi Thành, Quảng Nam đã rụng rời chân tay khi nhìn tờ giấy viết toàn bằng chữ lạ hoắc mà người ta nói với bà rằng nó đến từ Hải Nam, nơi đang cầm giữ mạng sống của chồng bà với số tiền chuộc họ đòi là 130 triệu đồng! Chị Nguyễn Thị Hoa, ở khối 4 thị trấn Núi Thành còn khốn khổ hơn. Chồng chị, bị tàu lạ bắt dạo tháng 3/2007 và đòi chuộc 160 triệu đồng. Chị phải bán ngôi nhà đang ở mới có đủ số tiền ấy!
Theo thống kê của Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng Quảng Ngãi, từ đầu năm đến nay, phía Trung Quốc đã bắt giữ 17 tàu cá với khoảng 210 ngư dân huyện đảo Lý Sơn và xã Bình Châu, huyện Bình Sơn trong lúc hành nghề và trú bão trên vùng biển Hoàng Sa. Trước áp lực của công luận, họ phải thả 13 tàu cá cùng 210 ngư dân về Quảng Ngãi nhưng vẫn còn 4 tàu cùng nhiều trang thiết bị, ngư cụ, thủy sản bị tạm giữ ở Hoàng Sa, ước tổng giá trị gần 8 tỷ đồng.

Vì sao họ phải lựa chọn giải pháp "cướp biển" như vậy trong khi hồi tháng 12 năm ngoái họ điều động ba chiến hạm tới vùng biển Somali để góp phần "chống cướp biển"?
Xem ra tiền chuộc mà bọn cướp biển Somali đòi chính phủ và gia đình các nạn nhân của chúng với tiền chuộc mà lính Trung Quốc đòi gia đình những ngư dân Việt Nam bị họ bắt có lẽ chỉ khác nhau mỗi một điểm: một bên là đô la Mỹ và một bên là tiền đồng Việt Nam được quy đổi theo tỷ giá Nhân Dân tệ!
Sao lại phải cất công đi chống cướp biển tận vùng Sừng châu Phi mà không chống cướp biển ngay trên biển Đông nhỉ?
Vả chăng, chống bọn cướp biển này lại không cần đến hạm đội diễu võ dương oai (thực sự là bước tập dượt đầu tiên hướng tới xây dựng một lực lượng "hải quân viễn dương") mà chỉ cần phát ra một mệnh lệnh "tạm ngừng"!
Theo giáo sư Ramses Amer (Thụy Điển) thì tất cả những "động thái gây ầm ĩ " gần đây của Trung Quốc đều gắn với việc Việt Nam đăng kí thềm lục địa mở rộng lên LHQ mà ông cho là "một bước đi tuyệt vời, khiến Trung Quốc bất ngờ..." Việc cấm tàu cá ra khơi, bắt giữ ngư dân khi tránh bão ở quần đảo Hoàng Sa... chỉ là biểu hiện của sự "phản ứng thụ động" của Trung Quốc.
| Vấn đề đang tồn tại trong quan hệ hai nước Việt Nam - Trung Quốc là do lịch sử để lại: vấn đề trên biển. Tồn tại vấn đề này là khách quan. Chúng ta không nên để vấn đề ảnh hưởng lợi ích của hai bên và sự phát triển của quan hệ hai nước. Nếu trong thời gian ngắn, chúng ta không giải quyết được, thì nên để sang một bên, làm những vấn đề mà hai nước có thể cùng làm được để phát triển. - Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường. |
Cũng theo GS Ramses, bản chất của vấn đề ngư dân là câu chuyện chủ quyền, vấn đề chính trị, ngoại giao. Trung Quốc chỉ tìm mọi cách để nhắc nhở và khẳng định ai là chủ ở Biển Đông.
Lần đầu tiên, tháng 5/2009, Trung Quốc buộc phải đưa bản đồ tuyên bố chủ quyền hình chữ U trên Biển Đông lên Liên hiệp quốc, bản đồ mà Trung Quốc vốn luôn chỉ giữ kĩ trong túi mình. Trong khi đó, chính các học giả Trung Quốc cũng không hiểu thực sự đường lưỡi bò mà Trung Quốc đưa ra thể hiện điều gì.
Theo một bài thuyết trình của một học giả Mỹ tại Đại học Texas gần đây, từ khoảng 20 năm trở lại đây, Trung Quốc đã sử dụng một công thức tổng hợp để thực hiện tham vọng của mình: một là, tấn công quân sự qui mô nhỏ; hai là, thực hiện đơn phương thăm dò và khai thác tài nguyên trên vùng tranh chấp; ba là, đe doạ bằng vũ lực đối với ngư dân hoặc sử dụng sức ép kinh tế đối với các tập đoàn dầu khí quốc tế nhằm ngăn chặn các đối thủ tiến hành khai thác tài nguyên ở vùng tranh chấp; bốn là, chia rẽ các nước trong khu vực bằng kinh tế và ngoại giao; năm là, tuyên truyền chủ quyền và thái độ cứng rắn của họ đối với vấn đề biển Đông trên toàn thế giới để các nước phải e ngại. Công thức này của Trung Quốc có mục tiêu hướng vào việc thiết lập chủ quyền của họ đối với biển Đông trên thực tế (de facto), mặc dù về mặt pháp lý (de jure) điều này không biện hộ được.
Phải đặt vấn đề bắt giữ để vòi tiền chuộc mà họ gọi là "tiền phạt" (thực chất là một quỷ biện của ngôn từ) để lấp liếm hành động cướp biển mà chính họ cũng chưa tìm được cách "ăn làm sao, nói làm sao bây giờ", khi mà họ luôn luôn muốn giữ thể diện và đánh bóng hình ảnh của mình trong khu vực và trên thế giới.
Hơn nữa, nói như ông Augusto N. Muclat, chuyên gia về đối thoại quốc tế của Philippines, Trung Quốc đã tham gia Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với ASEAN (ASEAN Treaty of Amity and Cooperation): "Họ phải có trách nhiệm thực hiện những điều mà mình đã kí kết. Cho nên, sẽ là không thể có chuyện và không thể chấp nhận nếu việc cho người tấn công hay đối xử tàn bạo với ngư dân nước khác là chính sách của Chính phủ Trung Quốc, nhất là trong trường hợp khẩn cấp tránh bão. Chính phủ nước này cần hành động để thu thập thông tin về hành xử sai trái này, và kỷ luật những người chịu trách nhiệm".
Và đúng như GS Lokshin G. Mikhailovich (Nga) "quan điểm của Trung Quốc là hết sức thiếu nghiêm túc, chỉ mang tính tuyên truyền hơn là dựa trên lôgic, và tính pháp lý".
| Có những trang mạng đưa quan điểm không hữu nghị với Việt Nam. Đó chỉ là các ngôn luận cá nhân, không phải chủ trương, lập trường của Chính phủ Trung Quốc. Chủ trương của chúng tôi là Chính phủ làm hết sức mình để thúc đẩy quan hệ Trung Quốc - Việt Nam. - ĐS Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường. |
Thâm thúy và tế nhị, giáo sư nhắc lại một chuyện cũ: "Khi còn trẻ, là một phiên dịch, có dịp dịch cho đoàn quan chức Việt Nam tới thăm Liên Xô và có đề cập tới vấn đề Hoàng Sa. Chính sách của Trung Quốc lúc đó rất cứng rắn. Họ lấy lí do là qua nghiên cứu khảo cổ, họ đã phát hiện xương người Trung Quốc ở các đảo thuộc quần đảo này, và do đó, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với quần đảo. Lãnh đạo Việt Nam khi đó đã đáp lời Trung Quốc, hãy tới khảo cổ ở gò Đống Đa và các khu vực xung quanh Hà Nội, họ sẽ tìm thấy nhiều xương của người Trung Quốc hơn nữa".
Nhưng thôi, hãy cố quên đi những kỷ niệm buồn để mà cố "cánh thượng nhất tầng lâu"(bước thêm một bậc lầu nữa) để có thể "dục cùng thiên lý mục" (phóng tầm mắt xa ngàn dặm) trong thơ Vương Chi Hoán, khiến cho nhân dân hai nước chúng ta cùng nhau đi tới trong một thế giới đang rộng mở.
Và cũng đừng làm theo nàng Tức Vĩ trong tuyệt tác của Vương Duy: "Khán hoa mãn nhãn lệ Bất cộng Sở Vương ngôn" (Ngắm hoa mà lệ chứa chan đôi mắt, Không nói một lời nào với vua Sở). Làm sao sống cạnh nhau mà không nói một lời nào với nhau được?
Lẽ nào trong thế kỷ XXI đang mở ra một chân trời mới cho các dân tộc, cho dù là "siêu cường" hay "đang phát triển", đều có những cơ hội để tìm thấy chỗ đứng của mình, lại phải như nàng Tức Vĩ vốn là người nước Tùy bị vua nước Sở cưỡng bức nên quyết "Bất cộng Sở Vương ngôn" được.
Cho dù phải bán nhà mới có đủ tiền chuộc chồng trở về, thì người vợ khốn khổ vừa kể trên không buộc phải ứng xử như nàng Tức Vĩ sống cạnh Sở Vương, người đã bức tử chồng mình, để chiếm đoạt mình. Những âm mưu thì ở đâu đâu ấy, chứ nhân dân thì bên này hay bên kia biên giới đều ước ao được sống trong hòa bình, hữu nghị, đều biết cái nghĩa của câu ca dao "bán anh em xa, mua láng giềng gần", đều có thể hồn nhiên tấu lên khúc Kinh Thi, mà Kinh Thi cũng là một thứ "ca dao" trong văn hóa dân gian đấy thôi:
"Đào chi yêu yêu,
Chước chước kỳ hoa,
Chi tử vu qui,
Nghi kỳ thất gia."
(Mơn mởn đào tơ,
Rực rỡ nở hoa,
Cô ấy lấy chồng,
Êm ấm cửa nhà)
Mong làm sao chỉ được nghe "lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu" trong "đào chi yêu yêu" ấy hay nghe "những chữ vàng" đọc lên cứ sang sảng như chuông đồng, chứ không là tiếng nổ của súng liên thanh bắn vào ngư dân trên biển.
Hy vọng rằng cái chuyện "thị khả nhẫn dã, thục bất khả nhẫn dã", việc đó nhẫn tâm làm được thì việc gì mà không nhẫn tâm làm được (Luận Ngữ. Thiên Bát Dật) mà Đức Khổng Tử đã từng khuyến cáo, chỉ là chuyện bậy bạ do bọn "bên dưới" gây ra, chứ không phải do những người tử tế "nói rồi rồi lại ăn lời được ngay" đâu!
Vì rằng, vị "vạn thế sư biểu" ấy đã từng răn dạy "Tiên hành kỳ ngôn, nhi hậu tòng chi", làm trước điều mình muốn, rồi hãy nói sau. (Luận Ngữ Thiên Vi Chính). Chẳng những thế, ngài lại thật nghiêm khắc mà cảnh báo: Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã [Người mà không có đức tín thì sao thành người được! (Luận ngữ Thiên Vi Chính). Ai ai cũng đều mong được là người tử tế!