Trong khu vực Biển Đông, nhiều mô hình hợp tác chung rất thành công, nhưng cũng không ít mô hình sẽ mãi mãi không thể trở thành hiện thực. Nhìn chung, những mô hình hợp tác thành công phải thỏa mãn được một số điều kiện…
Lời tòa soạn: Trong kỳ 1 bài viết, tác giả Hoàng Việt đã giới thiệu sơ lược về phương án “chia sẻ tài nguyên Biển Đông” của nhóm Mark J. Valencia và phương án “gác tranh chấp, cùng khai thác” do phía Trung Quốc đưa ra.
Nhằm cung cấp tư liệu tham khảo cho độc giả, Tuần Việt Nam tiếp tục đăng tải kỳ 2 bài viết, nói về phương án khai thác chung do phía Việt Nam đề xuất, và những điều kiện căn bản để các bên có thể tiến tới giải pháp khai thác chung thành công.
* * *
3. Phương án “Hợp tác cùng phát triển” của Việt Nam
Việt Nam cũng đưa ra một sáng kiến cho việc hợp tác khai thác chung trên Biển Đông, đó là đề xuất “hợp tác cùng phát triển”. [1] Đề xuất này được biết tới lần đầu tiên là do ông Đỗ Mười nêu ra chính thức trong chuyến thăm Thái Lan tháng 10 năm 1993 và sau đó chủ trương này đã và đang được Việt Nam triển khai trên thực tế.
Khác với đề xuất “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc, chủ trương “hợp tác cùng phát triển” trong các khu vực tranh chấp bao gồm không chỉ thăm dò, khai thác tài nguyên mà còn bao gồm các lĩnh vực khác như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giữ gìn an toàn và an ninh hàng hải, chống cướp biển… và các lĩnh vực khác phù hợp với lợi ích của các bên liên quan.
Hợp tác cùng phát triển trong khu vực Biển Đông nhằm mục đích đảm bảo và phục vụ lợi ích của các bên liên quan, biến Biển Đông thành một khu vực hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Các bên tranh chấp phải tuân thủ các nguyên tắc được nêu trong Tuyên bố ASEAN - Trung Quốc năm 2002 về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế được thừa nhận rộng rãi.
Về phạm vi thực hiện, việc hợp tác cùng phát triển được thực hiện ở những vùng có tranh chấp thực sự. Khu vực có tranh chấp thực sự là khu vực chồng lấn bởi những đòi hỏi chủ quyền của các bên liên quan có căn cứ pháp lý và lịch sử vững chắc, phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật biển năm 1982 và được các bên thừa nhận là vùng có tranh chấp.
Theo đó, trên Biển Đông, các vùng đang có tranh chấp cơ bản là khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khu vực ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển.
Ngoài ra còn có thể kể đến các vùng thềm lục địa ở phía nam và tây nam Việt Nam, cũng được coi là vùng chồng lấn được các bên thừa nhận những đòi hỏi chủ quyền của nhau giữa Việt Nam với Malaysia, giữa Việt Nam, Thái Lan và Malaysia; hay tại vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia.
Tại các vùng biển này, thực tế cho thấy, việc triển khai hợp tác cùng phát triển được tiến hành khá thuận lợi do đã đáp ứng được các tiêu chí về việc xác định vùng thực sự có tranh chấp.
Như vậy, mọi hoạt động của bất cứ bên nào tại các vùng biển của một quốc gia mà không có sự chấp thuận của quốc gia đó sẽ bị coi là hành vi vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển. Do đó, những hành vi như vậy không thể được coi là tinh thần hợp tác và cần bị loại trừ nhằm tránh gây những căng thẳng trong khu vực.
Ví dụ như hành động Trung Quốc và Philipines cùng nhau ký kết một thỏa thuận thăm dò địa chấn biển chung tại một khu vực có tranh chấp nhiều bên, trong đó có Việt Nam, mà không có sự đồng thuận của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và đi ngược lại tinh thần của DOC.
Sau khi Việt Nam kiên quyết phản đối, Trung Quốc và Philippines đã phải hủy bỏ thỏa thuận hai bên đó và ký kết một thỏa thuận ba bên về thăm dò địa chấn tại khu vực này.

Ảnh chỉ có tính minh họa.
Những điều kiện để khai thác chung thành công
Cho đến nay, một số cuộc thương lượng nhằm đi đế thỏa thuận về việc phát triển tài nguyên tại một số vùng tranh chấp khác nhau trên thế giới đã mang lại kết quả và được coi như là những khuôn mẫu cho việc quản lý phát triển tài nguyên trong Biển Đông.
Cũng giống như tranh chấp Biển Đông, mỗi thỏa thuận đều nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền, quyền tài phán biển, những tính toán về địa chiến lược và quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Qua các thỏa thuận này, chúng ta có thể học hỏi được nhiều điều về những cách thức và biện pháp mà những thỏa thuận này đã xử lý đối với vấn đề chủ quyền hóc búa, cũng như vấn đề phạm vi và chiều hướng của các quyền, những nhiệm vụ và trách nhiệm của các bên liên quan.
Đối với tranh chấp Biển Đông, cũng đã có nhiều ý tưởng, đề xuất về những giải pháp tạm thời cụ thể: từ mức độ xây dựng lòng tin, đến quản lý cùng khai thác tài nguyên chung tại khu vực này.
Trong khu vực Biển Đông, nhiều mô hình hợp tác chung rất thành công, nhưng cũng không ít mô hình sẽ mãi mãi không thể trở thành hiện thực. Qua phân tích về những trường hợp hợp tác nói trên, những mô hình hợp tác thành công phải thỏa mãn được các điều kiện sau:
- Đáp ứng được nhu cầu và lợi ích chung của các bên;
- Việc khai thác chung được thực hiện trong một khu vực chồng lấn được xác định rõ ràng, tạo bởi các tuyên bố chủ quyền của các bên phù hợp với luật pháp quốc tế - đây là tiêu chí quan trọng nhất trong bất kỳ thỏa thuận khai thác chung nào.
- Cơ chế, phương thức hợp tác khai thác chung trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tranh chấp Biển Đông là một trong những tranh chấp phức tạp nhất thế giới, vì thế không có một mô hình nào hay phương thức hợp tác chung duy nhất nào có thể áp dụng thành công ở Biển Đông. Trong đó, điều quan trọng là hợp tác khai thác chung phải đảm bảo phân chia lợi ích của các bên một cách bình đẳng.
- Việc hợp tác khai thác chung không ảnh hưởng đến quá trình đàm phán cũng như yêu sách chủ quyền của mỗi bên. Cơ sở để các bên có thể đạt được một thỏa thuận về hợp tác cùng phát triển là việc hợp tác này không phương hại đến lập trường, quá trình đàm phán cũng như giải pháp cuối cùng là phân định vùng biển chồng lấn giữa các bên.
Có thể nói, xét bối cảnh tranh chấp tại Biển Đông hiện nay về mặt chính trị, các nước trong khu vực chưa có được lòng tin ở mức độ nhất định để có thể gác tranh chấp sang một bên và tiến hành hợp tác khai thác chung trong toàn bộ Biển Đông.
- Việc hợp tác cùng khai thác chung tại khu vực Biển Đông tranh chấp chỉ có thể được thực hiện thành công và thực sự góp phần biến Biển Đông thành một khu vực hòa bình, hợp tác và thịnh vượng khi các bên thể hiện thiện chí và quyết tâm trong việc hợp tác, qua đó xây dựng lòng tin, đẩy lùi nguy cơ xung đột, phục vụ lợi ích của mình cũng như lợi ích chung của khu vực.
Trong tranh chấp Biển Đông, mối quan tâm, lợi ích của các bên trong tranh chấp đôi khi không đồng nhất, do đó bất kỳ một đề xuất hợp tác nào chỉ tập trung vào một đối tượng duy nhất và áp dụng chung cho tất cả các bên tranh chấp Biển Đông đều khó thành công. Ví dụ như lập trường chính trị của Trung Quốc đề nghị gác lại vấn đề chủ quyền, khai thác chung tài nguyên của các quần đảo này không được các bên tranh chấp chấp nhận vì Trung Quốc vẫn luôn đưa ra yêu sách của bên mạnh nhất.
Vài lời kết
Cho đến nay, phương án hợp tác đa phương trong khu vực Biển Đông vẫn luôn là một giải pháp được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới tán thành, mặc dù nó mới chỉ là một phương án tạm thời.
Tuy nhiên, chỉ có Việt Nam và Philippines là những nước tranh chấp sẵn sàng ủng hộ cho giải pháp này mà thôi. Trung Quốc một mặt có những phát biểu xoa dịu tình hình nhưng mặt khác luôn sử dụng sức mạnh của mình trong việc giải quyết những bất đồng.
Là một cường quốc, với những nhu cầu rất lớn về năng lượng, Trung Quốc luôn có tham vọng khống chế Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình. Có lẽ hơn ai hết, để chống lại chính sách “nước lớn” của Trung Quốc, thì các nước ASEAN phải cùng có lập trường chung với nhau thì mới thoát ra hiện trạng đang diễn ra theo hướng có lợi cho Trung Quốc như bây giờ.
Trong bối cảnh như vậy, đề xuất “hợp tác cùng phát triển” với nội dung hợp tác đa dạng, có lẽ đáp ứng được lợi ích và mối quan tâm của các bên là giải pháp thích hợp hơn cả. Trên thực tế, tại một số khu vực tranh chấp trên thế giới, ví dụ giữa Nhật Bản với Trung Quốc, giữa Nhật Bản và Nga, bên cạnh việc hợp tác khai thác chung dầu khí, các bên còn thỏa thuận thành lập các vùng đánh cá chung để đáp ứng lợi ích truyền thống của nhân dân các bên liên quan.
Chú thích
[1]: Tuyên bố 4 điểm trong chuyến thăm Thái Lan của Tổng Bí thư Đỗ Mười.