Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Đình làng quê tôi bị phá từ lâu rồi

21/12/2009 11 phút đọc Tiến Đề (Tuần Việt Nam)
Những tấm bia đá mòn vẹt, sứt mẻ, những dòng chữ khắc thì mờ tịt không thể đọc bởi lớp bụi thời gian và sự tàn
Đình làng quê tôi bị phá từ lâu rồi

Những tấm bia đá mòn vẹt, sứt mẻ, những dòng chữ khắc thì mờ tịt không thể đọc bởi lớp bụi thời gian và sự tàn phá của con người. Những ngôi đình, chùa quê tôi bị lột ra thay mới trước cả khi dải núi đất thấp ven sông Đáy được bám víu về với Thủ Đô.

 

Quê tôi vốn nghèo nhưng cũng có đủ cả đình, chùa, miếu mạo, không những nhiều mà còn vô cùng phong phú đa dạng về kiến trúc nằm ở cụm làng cổ Tử Trầm – Tiên Phương – Thổ Ngõa – Làng So, cách Hà Nội hơn 20 Km đi theo quốc lộ 6 về phía Tây.

 

Phá từ Cổng vào Nhà

 

Bao năm đi xa, mỗi lần về thăm quê lại được thấy những đổi thay chóng mặt. Cơn bão đô thị hóa đang tràn về xâm lấn từng ngóc ngách của vùng quê bé nhỏ. Những nếp nhà gỗ cổ kính được lột ra thay vào đó là những ngôi nhà bê tông cốt thép, kệch cỡm với những kiểu kiến trúc hết sức vô duyên mọc lên giữa um tùm cây cối. Những con đường lát ngạch “nộp treo” nhỏ xinh ôm quanh làng giờ người ta lấy bê tông đổ đè lên mở rộng ra cho xe ô tô chạy.

 

Làng Trầm - Thổ Ngõa – Tiên Phương – Làng So vốn hiền hòa bình dị đã không thể đương đầu nổi trước những cái nhìn soi mói đầy mùi "xôi thịt" của lũ cò đất. Từng mảnh vườn, đám ruộng trước đây là bãi hoang, vườn dại, trồng dăm ba cây sắn, cây mây, bị các cò về chèo kéo rủ rê.

 

Người làng tôi bán sạch với giá rẻ như cho.  Ôm một cục tiền quá lớn, người làng như mộng mị, quên hết cái nghèo truyền kiếp bao đời, ra sức sửa sang mua sắm. Việc đầu tiên đó là làm lại cái nhà. Căn nhà gỗ thân yêu hàng đời nay đã che chở mưa nắng cho biết bao thế hệ gia đình, căn nhà không chỉ là chứng tích ghi dấu những kỉ niệm mà còn lưu giữ những giá trị kiến trúc văn hóa hàng trăm năm; nay nó trở nên quê mùa trước những kiến trúc tân thời mà mấy ông “Hà Nội con” xúi quẩy mang về tiếp thị chính những người đã bán đất cho họ.

 

Người làng bị lóa mắt trước những lời ong bướm nghe rất bùi tai, mà không hiểu được mưu mô đằng sau ấy nó thâm sâu quỷ quyệt đến mức nào. Những khung nhà gỗ ấy lại có giá hàng chục triệu đối với phường buôn nhưng với người nông dân thì họ bán với giá vài triệu. “Lũ cò” lại ngấm ngầm thâu mua những khung nhà gỗ hàng trăm năm tuổi, vơ vét cả những đồ thờ tự cũ kỹ, những câu đối trạm khắc tinh vi giờ trở nên thừa thãi trong căn nhà bê tông, bị người làng tống đi.

 

Người làng ngây thơ, bị dụ dỗ trong cơn say tiền bạc, không thể chịu được một cái nhìn khinh khỉnh của làng xóm vì cái thói “con gà tức nhau tiếng gáy”. Những lề thói tốt đẹp, tắt lửa tối đèn có nhau, giúp nhau từng ca thóc, hạt ngô, đùm bọc thương yêu, quấn quít nhau là thế mất dần thay vào đó là lối sống thị thành mà mấy ông “trọc phú giàu xổi” đem về lây nhiễm cho cái làng đã hết sức đề kháng.

 

Họ dựng nhà với tường kín bao quanh, cổng nhà to như biệt phủ lúc nào cũng cửa đóng then cài, lại cộng thêm một đàn chó Becgie to như những con bê, động tý là xủa ông ổng, khiến lũ trẻ làng sợ chết khiếp, và có thời người làng ghét đã ném bả cho ăn.

 

Thế nhưng sức phản kháng yếu ớt ấy đâu có thấu bằng nỗi đau về sự khinh rẻ hàng ngày họ phải gánh chịu từ những ông trọc phú coi trời bằng vung.

 

Người làng ngấm ngầm chửi rủa thầm trong bụng nhưng rồi chửi mãi cũng chán và lâu dần ngao ngán trước cảnh một bên là chân lấm tay bùn, quần quật sớm khuya vẫn không đủ ăn, một bên là nhà lầu xe hơi nhàn hạ. Thế là người làng quyết định bán,. Bán tuốt những gì có thể bán để đổi đời như họ.

 

Và chỉ chờ có thế, mấy ông “Hà Nội con” liền tung tiền ra ôm hết số đất còn lại trong làng. Tưởng họ sẽ xây dựng ai dè, mua để đấy, xây tường bao quanh và thuê lại chính người làng trông hộ. Hết ruộng vườn, hết kế sinh nhai, người làng đi học đủ thứ nghề các nơi mang về làm, được một thời gian lại bỏ vì không có kinh nghiệm. Người làng thất nghiệp, trai tráng không công ăn việc làm, sinh ra cờ bạc và một loạt các tệ nạn xã hội xuất hiện.

 

Từ ngày đất lên giá, biết bao chuyện dở khóc dở cười xảy ra. Anh em xích mích. Hàng xóm ly tán. Và chỉ với cái “lằn ranh bờ rào” vốn trước đây là của chung, nay có thể trở thành nguyên nhân gây đổ máu.

 

Cho đến giờ người làng tôi vẫn đồn thổi về bị kịch của một gia đình. Chuyện kể rằng có một "ông Hà Nội" vốn thoát ly khỏi làng từ nhỏ, khi nghe thấy thông tin làng về Hà Nội, đã nhanh chóng bỏ hết việc mang súng về quê bắn chim và thăm nom họ hàng. Dân làng bất ngờ, còn các cụ thì xúc động về sự thăm hỏi chu đáo của thằng cháu bằng năm chục, trăm ngàn, dúi vào tay.

 

Được ông chú ở quê vốn nổi danh là “Bá kiến thời hiện đại” tư vấn, cu cậu bỏ tiền ra gom đất của bà con trong họ, xây tường bao để đấy và nói ráo hoảnh với mọi người rằng sau này sẽ về quê an dưỡng. Người làng và các cụ ngã ngửa một lần nữa khi thấy một ngày cu cậu dẫn theo mấy ông bạn đồng nghiệp đi khắp làng chỉ trỏ giới thiệu hóa ra là để tiếp thị “mảnh đất hương hỏa” mới hợp thức hóa được giấy tờ. Mà theo gã nói thì đây là mảnh đất có địa thế tốt nhất làng, mấy anh xây biệt thự thì nhất.

 

Sau những bất ngờ ấy, người làng dần nhận ra bản chất của cu cậu. Họ quyết giữ lại những gì có thể giữ được cho dù có phải ăn cơm độn khoai, thế nhưng sự đời đã quá muộn khi tiền đã trao và đất đã có chủ mới.

 

Phá từ Nhà ra đến Đình

 

Cái làng quê vốn yên bình thủa ấy, nay dậy sóng trong cơn sốt đất và xây dựng. Từ đầu làng đến cuối xóm, chỗ nào cũng thấy gạch vữa ngổn ngang. Xây xong nhà, mấy ông dỗi hơi bày vẽ lên kế hoạch tu sửa Đình làng, Chùa, xây Miếu và dự định xây cả một cái cổng làng mới nữa.

 

Cuộc đại tu được lên kế hoạch khá chuyên nghiệp nhờ sự đóng góp tích cực của mấy ông "Hà Nội con", như kiểu biết lỗi trước dân làng nay góp công của vào để làm phúc cho con cháu.

 

Cây đa làng là chứng nhân cổ duy nhất còn tồn tại sau cuộc đại tu Đình Làng Thổ Ngõa.

 

Nhưng hỡi ôi sự đời đâu phải vậy!. Đằng sau cái mục đích đầy cao cả và ý nghĩa thiêng liêng kia là cả một sự tính toán nhằm moi tiền nhà nước đầy tinh vi. Và câu chuyện được khái quát như sau.

 

Chuyện Đình Làng, Chùa, Miếu bị xuống cấp là có thật và cần được tu sửa khẩn cấp, thế nhưng để có tiền làm những chuyện đó thì quả là khó với làng khi ngay cái từ dự án họ cũng chưa hiểu cận kẽ. Và thế là bằng những mánh khóe trường đời các ông "Hà Nội con", học được sau bao năm bươn chải nay về quê an dưỡng có dịp phát huy.

 

Một hội đồng được lập ra khá bài bản gồm đầy đủ các lão ấu phụ tử, cùng các quan chức địa phương họp ở đình làng. Dự án được trình bày bằng máy chiếu hiện đại, các cụ thì há hốc miệng, thanh niên làng thì nghển cổ lên nghe vì ngạc nhiên trước kế hoạch được trình bày rất chi là chuyên nghiệp. Kế hoạch được thông qua chóng vánh nhờ những xảo thuật mà không gặp bất cứ phản đối nào từ dân làng.

 

Dự án trình lên, xuôi chèo mát mái. Vốn để xây dựng được duyệt và bước tiếp theo là huy động thêm đóng góp của Làng, tùy hảo tâm. Dịp này làng sẽ dựng bia những ai công đức nhiều và tất nhiên trên trán tấm bia mới không thể thiếu tên tuổi những ông trọc phú.

 

Việc chuẩn bị sửa chữa Đình, Chùa làng diễn ra với đầy đủ các nghi lễ giống y như hội. Và cũng kể từ đây, nảy sinh ra biết bao điều chướng tai gai mắt. Việc sửa chữa Đình được đem ra bỏ thầu nhưng không thể lọt khỏi lưới mấy "ông Hà Nội'.

 

Có tiền, được làng ủy nhiệm các ông chủ thầu cứ thế tiến hành – trước hết là huy động công sức của dân làng dỡ toàn bộ đình làng ra đã,. Chỉ trong mấy ngày, Đình đã bị san bằng thành bình địa bên cạnh là đống ngói âm dương cũ, cột, hoành phi, đồ thờ được xếp vào một đống. Nhiều người làng mới về đi qua ngó vào xem lắc đầu quay đi lẩm nhẩm “thế là chúng nó lại mang thịt chó vào giữa đình ăn rồi”.

 

Đáng lý ra việc sửa chữa Đình phải tuân theo quy tắc là hỏng đến đâu thay đến đó, giữ lại những gì là vốn cổ như các phù điêu trạm khắc, những con tiện tinh xảo. Thay vì giữ lại để tiết kiệm và bảo lưu được cái cũ, họ lại thay mới toàn bộ bằng những thứ đặt làm sẵn ở một làng gỗ kế bên, chúng được làm bằng máy vô hồn, thô kệch.

 

Những cây cột bê tông đánh vecni giả gỗ được dựng lên chóng vánh tạo nên những cái cột đình to ngoại cỡ. Loại ngói lợp đình được lấy từ những lò gạch của xã.Lớp gạch ốp thì được thay bằng loại gạch bông xi măng được dập hoa văn xanh đỏ. Gạch lát nền đáng ra phải lát loại gạch bát thì họ thay bằng thứ gạch men sáng bóng, khiến ánh sáng chiếu phản cả vào mặt tượng.

 

Nếu ngày trước làng dựng đình phải mất từ hai đến ba năm, thời gian dài thế là để chọn gỗ, chọn thợ tay nghề cao, cử người đi chọn mua vật liệu thì nay các thợ làm công nghiệp nên chỉ chưa đầy một năm ngôi đình mới đã hiện lên, nhìn bề ngoài thì hoành tráng lộng lẫy nhưng cái mã bên ngoài đã bị thời gian phô bày.

 

Sau hơn một năm, tường Đình, cột Đình bị long nứt, các mộng gỗ được gắn bằng loại keo công nghiệp nhão ra, chảy dài trên các vì kèo, tố cáo nhà thầu xây dựng thi công cẩu thả. Người ta chống chế bằng cách cho vài anh thợ với đồ nghề là ít vữa thạch cao cùng mấy ống silicon về sửa chữa.

 

Người làng lại được phen bất ngờ về các ông con. Đình là nơi linh thiêng như thế mà chúng còn dám làm ăn dối trá như vậy, bảo sao đất cát của làng cứ đội nón ra đi. Người làng lại ngậm ngùi và lại đồn thổi bảo ban nhau để tránh những cú lừa của "dân thành phố".

 

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu