Những bài văn “kinh hoàng” của học sinh trong các kỳ thi phổ thông từng gây sốc với các vị phụ huynh và các nhà ngôn ngữ học. Các nhà sư phạm đổ lỗi cho chương trình tiếng Việt và phương pháp dậy môn Văn do chính họ đẻ ra và thực hành. Tiếng Việt báo đài, truyền thông đầy rẫy “sạn”, sai và nhầm, tối nghĩa và lủng củng chủ yếu do tật “hay chữ lỏng”, thích dùng chữ Việt Hán (từ gốc Hán) cho sang nhưng dốt nên viết sai, rất chướng tai.Tiếng địa phương với cách phát âm,và dùng từ của mấy chục tỉnh thành, mấy chục dân tộc dùng tiếng Việt làm cho môi trường nghe tiếng Việt cũng đầy những thứ khó nghe.
Những sự “nói ngọng” , “viết ngọng” công khai đòi quyền “phương ngữ” của mình trên các diễn đàn và truyền thông. Văn chương- tức tiếng Việt đẹp- cũng bùng nổ chưa từng thấy do điều kiện công bố vô cùng thuận lợi cùng những khát vọng cách tân cháy bỏng của giới trẻ làm các “cụ bô” thấy ghê người, phải bịt tai, nhắm mắt !
Những sự “nói ngọng” , “viết ngọng” công khai đòi quyền “phương ngữ” của mình trên các diễn đàn và truyền thông. Văn chương- tức tiếng Việt đẹp- cũng bùng nổ chưa từng thấy do điều kiện công bố vô cùng thuận lợi cùng những khát vọng cách tân cháy bỏng của giới trẻ làm các “cụ bô” thấy ghê người, phải bịt tai, nhắm mắt ! Từ ngày mạng Internet bùng nổ thành kênh thông tin toàn cầu, tiếng Việt đạt tới sự bất toàn, bát nháo chưa từng có. Tiếng Việt ở đây không còn phân biệt văn nói-văn viết, bác học-bình dân, hàn lâm- đường phố, văn chương-lời nói hàng ngày…Tiếng Việt của các thế hệ, từ 100 tuổi tới tuổi mẫu giáo, cùng chung sống. Tiếng Việt thật sự không biên giới, được viết ra ở Việt Nam và Mỹ, Đức và Pháp, từ Brazil và Australia, từ Trung Quốc và châu Phi.
Tất cả đan xen nhau như những sợi sặc sỡ tạo nên tấm thảm “tiếng Viêt mạng- Net-Vietnamese” khổng lồ đầy các lỗi thắt nút. Tiếng Việt mạng là cái công trường khai khoáng vĩ đại đầy cách chất thải ô nhiễm môi trường. Nó thẳng từ ngừơi viết-nói tới người đọc-nghe không cần qua các bộ lọc truyền thống như : thầy-trò, người viết-chủ báo, tác giả -biên tập viên, người đánh máy hay sửa mo-rát…Thế nên người bi quan thấy Tiếng Việt hiện đại của chúng ta xuống cấp, bát nháo và xấu xí quá : Ngữ pháp “chuẩn” bị đảo lộn, các dạng thức ngoại lai được xào xáo rất ngây ngô, từ Việt Hán bị dùng ẩu tả, sai cả nghĩa gốc, các từ tiếng Tây và ký hiệu mới tràn lan, bừa phứa…phản “thẩm mỹ’ v.v...
Gần đây có một vài quan niệm, vài hướng để “phục hưng” tiếng Việt hoặc chí ít là để “giữ gìn sự trong sáng” của nó. Các hướng này cũng đúng sai lẫn lộn. Quan niệm tiếng Việt suy vì bỏ Hán học và chữ Hán-Nôm chỉ đúng 7%! Những người cổ súy chuyện này đòi “phục dựng” Hán học, chữ Hán Nôm và nhầm rằng Nhật, Hàn và mới đây là Trung Quốc cất cách được là nhờ giữ được chữ vuông, tượng hình ! Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh nêu rất đúng, chữ Việt Hán ta dùng khác nhiều với chữ Hoa Hán người Trung Quốc đang dùng hiện nay và chuyện phục dựng kia là không khả thi. Tiếng Nhật Hán, Hàn Hán còn khác xa nữa bên cạnh việc tiếng Hàn có bảng chữ cái tượng thanh riêng, tiếng Nhật thì đa âm và cũng không phải chữ tượng hình đích thực.
Gần đây có một vài quan niệm, vài hướng để “phục hưng” tiếng Việt hoặc chí ít là để “giữ gìn sự trong sáng” của nó. Các hướng này cũng đúng sai lẫn lộn. Quan niệm tiếng Việt suy vì bỏ Hán học và chữ Hán-Nôm chỉ đúng 7%! Những người cổ súy chuyện này đòi “phục dựng” Hán học, chữ Hán Nôm và nhầm rằng Nhật, Hàn và mới đây là Trung Quốc cất cách được là nhờ giữ được chữ vuông, tượng hình ! Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh nêu rất đúng, chữ Việt Hán ta dùng khác nhiều với chữ Hoa Hán người Trung Quốc đang dùng hiện nay và chuyện phục dựng kia là không khả thi. Tiếng Nhật Hán, Hàn Hán còn khác xa nữa bên cạnh việc tiếng Hàn có bảng chữ cái tượng thanh riêng, tiếng Nhật thì đa âm và cũng không phải chữ tượng hình đích thực.
Cái liên minh “đồng chủng đồng văn” thực rất mù mờ và lủng củng. Dân ta trước đây không quá 1% đọc được chữ Hán, số đọc được chữ Nôm còn ít hơn. Hán học theo cụ Phan Khôi (Phan Khôi-Tác phẩm đăng báo 1931, NXB Hội nhà văn, trang 29-49) thì hầu như không có cái học nghĩa lý tức là cái học đích thực. Chỉ có cái học từ chương khoa cử còn gọi là tục học. Mà đám học thi để làm quan này dùng sách ít quá và thường quá, như thế thì không làm thế nào biết rộng được. Học kỳ cho tới đậu tiến sĩ mà chỉ dùng có 7 bộ sách! Trình độ các nhà Hán học tuyệt trần của ta so với người Tầu kể cũng là hạng trước thuật thường!
Thế nên dám nói rằng cái thành tựu tuyệt trần của tiếng Việt là do nhân dân làm ra. Họ đã dung nạp một khối lượng cực lớn từ gốc Hán vào tiếng ta, sử dụng chúng một cách độc đáo từ phát âm tới cách viết, cách lập từ và trong cú pháp. Những từ trừu tượng gần như 100% gốc Hán cổ. Điều này tương tự như các ngôn ngữ châu Âu dùng vốn từ gốc Latin. Cũng là một quy luật tiến hóa chung của mọi ngôn ngữ.
Thế nên dám nói rằng cái thành tựu tuyệt trần của tiếng Việt là do nhân dân làm ra. Họ đã dung nạp một khối lượng cực lớn từ gốc Hán vào tiếng ta, sử dụng chúng một cách độc đáo từ phát âm tới cách viết, cách lập từ và trong cú pháp. Những từ trừu tượng gần như 100% gốc Hán cổ. Điều này tương tự như các ngôn ngữ châu Âu dùng vốn từ gốc Latin. Cũng là một quy luật tiến hóa chung của mọi ngôn ngữ.

Cách duy nhất giúp làm trong sáng tiếng Việt là làm lại chương trình và cải cách phương pháp dạy tiếng Việt và văn học từ mẫu giáo lên đại học. Đồng thời có các chương trình dạy tiếng Việt Hán nâng cao cho các cộng đồng dùng tiếng Việt làm phương tiện sinh nhai như nhà báo, người làm truyền thông văn nghệ sĩ, giáo viên, các nhà nghiên cứu khoa học… Kể cả các sách dạng Cẩm nang dùng từ Việt Hán hay Những lỗi nhà văn nhà báo thường mắc... Đồng thời cần cổ vũ một phong trào “làm đẹp, làm giàu tiếng Việt” online và offline ! Đó là cách tôn vinh thành tựu “hội nhập ngôn ngữ” lần thứ nhất với tiếng Hán qua 2000 năm.
Từ 100 năm nay diễn ra cuộc hội nhập ngôn ngữ lần thứ hai toàn diện và mạnh mẽ, nhanh chóng và quyết liệt hơn rất nhiều. Đó là những lần tiếp xúc với tiếng Pháp và văn hóa Latin, rồi tiếp xúc với tiếng Nga và văn hóa Slavơ và gần nhất là với tiếng Anh (toàn cầu) và văn hóa Ănglô-Xacxông ! Phải nhận rằng từ thế kỷ 19 về trước do không có chữ viết tiếng Việt thuận tiện và phổ cập nên trong tiếng Việt hầu như chưa có văn xuôi. Đó là một sự chậm tiến đáng buồn. Chủ yếu với văn chương truyền miệng, ca dao dân ca nên tiếng Việt giỏi tả tình, gợi cảm… mà kém khả năng diễn ý, duy lý, khoa học, hàn lâm…
Giáo sư Phạm Vĩnh Cư rất có lý khi ông cho rằng thành tựu văn hóa nghệ thuật lớn nhất của Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 là văn xuôi, đầu tiên là văn xuôi báo chí, sau đó là tiểu thuyết. Nếu đọc lại Nông cổ mím đàm hay các tiểu thuyết tiếng Việt đầu tiên ta phải kinh ngạc về sự phát triển vũ bão của tiếng Việt. Ngày nay tiếng Việt vào loại phong phú và mạnh mẽ, giàu có nhất. Nó có thể diễn đạt mọi tình cảm, tư duy của con người trên tất cả các lĩnh vực từ khoa học tự nhiên tới khoa học xã hội, tôn giáo, văn học, nghệ thuật… Không miền biên viễn xa xôi nào của trí tuệ và trái tim con người mà tiếng Việt không thể khai phá.
Gần đây tôi hay đọc sách dịch, sách văn học và sách khoa học.Và sự hội nhập ngôn ngữ, tiến về phía trước chứ không ngoảnh lại phía sau, mở cửa tiếng Việt để Việt hóa mọi yếu tố ngọai lai chứ không đóng cửa, đã và sẽ mang lại những thành tựu mới. Nên học bài học của tiếng Anh, nó trở nên mạnh mẽ và giàu có (một triệu từ!) vì đã du nhập và Anh hóa mọi thứ có thể từ các ngôn ngữ khác.
Vì thế bất chấp mọi ô nhiễm, rác thải, nhầm lẫn và hỗn tạp, bất chấp mọi biểu hiện “kinh khủng” và “bát nháo” có thực nêu trên người yêu tiếng Việt là tôi vẫn thực rất lạc quan về tiếng Việt của mình.