Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Kinh tế Việt Nam 2010: Dẻo dai vượt thử thách

01/01/2010 23 phút đọc Hoàng Tường
Kết thúc năm 2009 đầy sóng gió, có lẽ không quốc gia nào tự nhận mình đứng bên ngoài cuộc khủng hoảng, cũng như cho rằng
Kinh tế Việt Nam 2010: Dẻo dai vượt thử thách

Kết thúc năm 2009 đầy sóng gió, có lẽ không quốc gia nào tự nhận mình đứng bên ngoài cuộc khủng hoảng, cũng như cho rằng mình đã thoát khỏi ảnh hưởng của suy thoái. Việt Nam cũng vậy, dù các nhà hoạch định đã đưa ra nhiều chính sách quyết liệt, và đã có những đánh giá lạc quan về thành tựu đạt được trong năm 2009.

 

Nhìn lại những tồn tại, bất cập của nền kinh tế trong thời gian qua cũng là một cách chuẩn bị nghiêm túc để sẵn sàng đón nhận thách thức của năm mới. Trên tinh thần ấy, trong buổi tọa đàm cuối năm do Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần tổ chức tại Press Café, năm chuyên gia kinh tế thân hữu - các ông Huỳnh Bửu Sơn, Phan Chánh Dưỡng, Trần Sĩ Chương, Trương Văn Phước và Vũ Thành Tự Anh - đã nhìn nhận, đánh giá kinh tế Việt Nam năm 2010 bắt đầu từ những điều chưa được đó...

 

Những bất cập của nền kinh tế, nhìn từ thực tế của một địa phương...

 

Chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn lưu ý, nền kinh tế nước ta đang tồn tại sự mất cân đối lớn về cán cân thương mại và thâm hụt lớn về ngân sách, gây nên những tác động không nhỏ. Mất cân đối ngoại thương, nhập siêu luôn ở mức cao sẽ khiến tỷ giá đồng Việt Nam (VND) giảm, nhưng trên thực tế vẫn được định ở mức cao. Cũng thực hiện công cuộc đổi mới như Việt Nam, nhưng mấy chục năm đổi mới của Trung Quốc là xuất siêu và dự trữ ngoại tệ cực lớn với tỷ giá đồng nhân dân tệ được định ở mức thấp, còn chúng ta thì nhập siêu và dự trữ ngoại tệ không cao. Năm 2009, tính chung Việt Nam nhập siêu khoảng 12 tỉ USD, nhưng riêng với Trung Quốc là 15 tỉ USD! Một trong những nguyên nhân, theo ông Sơn, vì VND được định giá cao khiến hàng nhập khẩu rẻ hơn hàng sản xuất trong nước, dù đã phải chịu thuế. Một khi hàng rào thuế quan được dỡ bỏ theo lộ trình gia nhập WTO, nhập siêu có nguy cơ ngày càng lớn.

 

Ông Huỳnh Bửu Sơn: "Việc các nhà tài trợ tin tưởng vào tương lai nền kinh tế Việt Nam sẽ ảnh hưởng tích cực đến những yếu tố khác".

 

Ông Phan Chánh Dưỡng, giảng viên chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, tỏ ra bức xúc trước thực trạng này và cho rằng vấn đề thặng dư mậu dịch giữa Việt Nam với Trung Quốc đã nổi cộm từ nhiều năm nay nhưng chúng ta đã không có đối sách nào hữu hiệu. Một học viên của ông đang làm đề án cao học về kinh tế của tỉnh cửa khẩu Lạng Sơn (giáp với Trung Quốc), cho biết tình hình hiện khá bi quan. Năm, bảy năm trước, nhờ cửa khẩu này mà kinh tế Lạng Sơn phát triển, nhưng khi mua bán song phương giữa hai nước từng bước đi vào chính ngạch, mọi chuyện trở nên khó khăn. Điều đó, theo ông Dưỡng, chứng tỏ kinh tế Lạng Sơn chỉ phát triển trong một mối quan hệ không bình thường. Khi các doanh nghiệp Trung Quốc không chỉ mua hàng tại Lạng Sơn, mà vươn tay vào từng nhà vườn của Việt Nam, thì tỉnh này không còn cần thiết trong vai trò trung chuyển nữa, người dân địa phương không còn là trung gian cho các cuộc giao dịch giữa doanh nghiệp hai nước (vì hai bên không biết nhau) nữa. Thay vì phải nhanh chóng chuyển đổi phương thức kinh doanh, Lạng Sơn lại muốn xin Nhà nước có một chính sách ưu tiên, nhằm trở về với thời kỳ làm ăn bất bình thường ấy. Ông Dưỡng đặt ra những câu hỏi: "Như anh Sơn nói, một năm chúng ta nhập siêu từ Trung Quốc 15 tỉ USD, tại sao không nghĩ cách để giảm bớt? Tại sao người ta vươn tay đến từng nhà vườn Việt Nam mua hàng được, còn chúng ta thì không? Sao không tự tổ chức mạng lưới phân phối để trực tiếp đưa trái cây của chúng ta bán ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu?". Ông Dưỡng kể chuyện người bạn của ông có một nhà hàng chuyên bán đồ Việt ở Phố Đông (Thượng Hải), cho biết giá một trái xoài bán ở nhà hàng này là 5 USD, nhưng nguồn hàng phải lấy từ thương lái Trung Quốc. Ông kết luận: "Tôi nghĩ nếu Nhà nước có chủ trương, chúng ta sẽ tổ chức được hệ thống bán lẻ tốt, để hàng hóa nước mình có thể bán trực tiếp đến các chợ hay siêu thị các thành phố ở Trung Quốc, từ đó xây dựng được hệ thống kinh doanh bên trong nước này. Như vậy không những có khả năng tăng kim ngạch xuất khẩu, giảm dần thâm hụt mậu dịch mà còn tạo nên hiệu quả kinh doanh cho sản phẩm nước ta".

 

Gói kích cầu hỗ trợ lãi suất - những mặt được và chưa được

 

Năm 2009, cả thế giới lao đao đối phó với khủng hoảng. Các nước đều tìm cách cứu nền kinh tế nước mình, tung ra các gói kích cầu để kích thích tiêu thụ trong nước, bù vào sự giảm xuất khẩu, duy trì công ăn việc làm cho người lao động, ổn định xã hội.

 

Ông Phan Chánh Dưỡng: "Nếu Nhà nước có chủ trương, hàng hóa nước mình có thể bán trực tiếp đến các chợ hay siêu thị ở Trung Quốc".

 

Với Việt Nam, gói kích cầu thứ nhất được tung ra, đáng chú ý là khoản tiền 17 ngàn tỉ đồng được giải ngân thông qua hình thức hỗ trợ 4% lãi suất vay ngắn hạn, tức đã có hơn 400 nghìn tỉ đồng tín dụng có ưu đãi lãi suất được cấp cho nền kinh tế. Mặt tích cực của gói kích cầu này là góp phần duy trì mức tăng trưởng GDP khoảng 5% trong năm 2009. Tuy nhiên, theo ông Dưỡng, do chưa có tổng kết cụ thể để xem các yếu tố khác như công ăn việc làm, cơ cấu kinh tế có thay đổi tích cực hay không, cũng như các biện pháp cân đối ngoại thương, thu chi ngân sách... bị tác động ra sao, nên chúng ta chưa thể có một đánh giá toàn diện, dù điều dễ nhận thấy nhất là nợ của Chính phủ đã tăng từ 36,5% GDP năm 2008 lên 40% GDP năm 2009.

 

Khi gói hỗ trợ lãi suất 4% chính thức không còn nữa (từ cuối năm 2009), nền kinh tế sẽ chịu áp lực như thế nào? Theo chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương, áp lực đó không nhỏ. Một mặt, nhiều doanh nghiệp khó khăn đang nhận được khoản vay hỗ trợ lãi suất, như con bệnh đang được "chích thuốc", nay ngưng lại sẽ bị "vã thuốc". Mặt khác, trong số hơn 400 nghìn tỉ đồng đó, chắc chắn một phần không nhỏ rót vào những chỗ không đáng, tức những doanh nghiệp sắp chết hoặc đã chết, khoản vay trở thành nợ xấu, ảnh hưởng đến cả hệ thống kinh tế. Ông Huỳnh Bửu Sơn tán thành: "Điều đó là đương nhiên" và nhận định rằng sở dĩ bộ mặt hệ thống ngân hàng vừa qua sáng lên cũng nhờ gói kích thích này và sự nới lỏng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước để chống suy thoái. Nay các chính sách siết lại, giảm bớt tín dụng, nâng lãi suất..., đương nhiên những khó khăn, nguy cơ tiềm ẩn trước kia sẽ trở lại. Ông Sơn nói thêm: "Những chính sách vĩ mô quan trọng phải có những điều chỉnh rõ ràng, chẳng hạn như cán cân thương mại. Trước đây, thiếu hụt cán cân thương mại còn được bù đắp bởi thặng dư tài khoản vốn, nhưng năm 2009 cả vốn đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp đều giảm, đương nhiên sẽ tác động đến tỷ giá. Thứ đến là thâm hụt ngân sách ngày càng cao, vượt quá 5% GDP, cũng sẽ gây lạm phát. Chính phủ tỏ rõ ý tiếp tục đầu tư cho kinh tế, nhưng chỉ số ICOR lên đến 8 (chỉ số này ở các nước đang phát triển thường ở mức 2,5-3,5) cho thấy đầu tư không hiệu quả. Thời gian tới sẽ thắt chặt tiền tệ, tuy nhiên những khoản nợ liên quan đến bất động sản và chứng khoán mấy năm trước vẫn chưa giải quyết được... tất cả sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế".

 

Tổng Giám đốc Ngân hàng Eximbank Trương Văn Phước nêu ra con số tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng năm 2009 là trên 38% và theo ông, gói hỗ trợ lãi suất 4% là một trong những tác động chính, đơn giản vì lãi suất thấp người ta sẽ vay nhiều. Nhưng ông cũng khẳng định, nếu không hỗ trợ lãi suất, tốc độ tăng tín dụng vẫn sẽ cao, vì yêu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, trong khi vốn bên ngoài vào bị suy giảm. Trong khi đó, vốn huy động tăng chậm hơn nhiều, dẫn đến mất cân đối vốn. Đó là lý do vì sao hệ thống ngân hàng trong quý IV/2009 phải hạn chế tín dụng để củng cố thanh khoản.

 

Lạm phát, tỷ giá và một số tác dụng phụ của các chính sách kinh tế

 

Khi đề cập đến tỷ giá và lạm phát - hai vấn đề lớn của kinh tế vĩ mô, các chuyên viên phân tích sâu những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá thời gian qua, cũng như nhận định về khả năng lạm phát. "Theo lý thuyết kinh tế, lạm phát ở đâu cũng do hiện tượng tiền tệ, điều đó đúng nhưng chưa đủ, vì lạm phát còn chịu tác động lớn bởi các nhân tố bên ngoài", ông Trương Văn Phước mở đầu. "Nếu mặt bằng giá của thế giới năm 2010 tăng cao, lạm phát có lẽ sẽ đến sớm và ngược lại. Chính vì vậy, những chính sách vĩ mô phải nghiên cứu tổng thể tác động của lượng cung VND cùng lúc với các tác động giá của kinh tế thế giới. Những tháng cuối năm 2008, chúng ta chặn được lạm phát, ngoài những biện pháp chủ động như tăng lãi suất, thắt chặt tín dụng..., phải kể đến yếu tố mặt bằng giá thế giới giảm xuống như giá xăng dầu và các nguyên vật liệu nhập khẩu khác".

 

Ông Trần Sĩ Chương: "Một phần không nhỏ nguồn vốn kích cầu rót vào những chỗ không đáng, khoản vay trở thành nợ xấu, ảnh hưởng đến cả hệ thống kinh tế".

 

Nối tiếp ý này, Giám đốc Chương trình kinh tế Fulbright Vũ Thành Tự Anh đi vào cụ thể hơn, ông nói: "Theo nghiên cứu của chúng tôi, nhiều khả năng lạm phát sẽ quay lại. Mỗi khi tỷ giá USD/VND tăng 1% thì CPI trong ngắn hạn sẽ tăng 0,1-0,2%, nhưng sau khoảng một năm CPI sẽ tăng khoảng 0,7%. Thứ hai, nếu năm 2008 giá dầu là 38 USD/thùng thì năm 2009 lên 70-80 USD/thùng rồi, nghĩa là giá năng lượng và hàng hóa thế giới nói chung đã và sẽ tiếp tục tăng cùng với sự phục hồi của kinh tế thế giới. Còn với các mặt hàng chúng ta xuất khẩu, như lương thực, thì khi giá thế giới tăng đương nhiên giá tại Việt Nam cũng tăng. Nghĩa là dù chúng ta nhập hay xuất thì cũng bị tác động bởi giá thế giới. Tác động thứ ba là tốc độ tăng trưởng tín dụng, như anh Phước nói là trên 38% và tính toán của chúng tôi theo cách tính năm nay so với năm trước, là khoảng 48%. Theo đồ thị nói lên tính tương quan này (và luôn đúng trong những năm vừa qua), thì tác động của mức tăng trưởng tín dụng lên chỉ số CPI có độ trễ khoảng 6-8 tháng, tức là nếu mức độ tăng trưởng tín dụng hiện là trên 38% thì 6-8 tháng sau sẽ thể hiện rõ ở mức tăng CPI, đó là chưa kể đến hai hiệu ứng vừa nói (tỷ giá và giá thế giới tăng). Nếu kinh tế thế giới phục hồi nhanh hơn, lạm phát còn đến sớm hơn".

 

Nói về tỷ giá, ông Trương Văn Phước lưu ý việc tỷ giá USD/VND tăng, giảm ngược với xu hướng chung của thế giới, do các yếu tố nội tại của nền kinh tế như chênh lệch lạm phát của Việt Nam và các nước cũng như cân đối cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối trong nước. Chính sách cấp bù lãi suất vay ngắn hạn 4% cho VND, không cấp bù lãi suất đối với tín dụng USD cũng như không cho các nhà xuất khẩu vay ngoại tệ, được các chuyên gia tài chính dự báo sẽ tác động mạnh đến thị trường ngoại hối, do làm cho cung ngoại hối giảm trong khi cầu lại tăng. Thực tế đã diễn ra như vậy. Doanh nghiệp xuất khẩu phải vay bằng VND, vậy thì khi thu USD về, họ có quyền giữ lại, đợi tỷ giá lên, chứ không nhất thiết phải bán ngay cho ngân hàng.

 

Đồng ý với ông Sơn và ông Phước về những vấn đề có tính nền tảng của tỷ giá, như tác động của nhập siêu, cán cân ngoại hối, ông Vũ Thành Tự Anh bổ sung rằng từ khi có gói kích cầu thì mức nhập siêu của chúng ta tăng mạnh, đặc biệt phần nhập siêu chủ yếu thuộc các doanh nghiệp, tập đoàn nhà nước - đầu tư một số vốn rất lớn bằng USD (nhập khẩu máy móc, thiết bị) vào cơ sở hạ tầng, nhưng doanh thu thì bằng VND. Ông Tự Anh nói: "Tỷ giá USD/VND đang chịu sức ép mạnh do thâm hụt cán cân thanh toán. Trong số liệu cán cân thanh toán của Ngân hàng Nhà nước, ba quý đầu năm 2009 khoản mục "sai số và thiếu sót" tổng cộng lên tới khoảng 9 tỉ USD. "Sai số" như vậy lớn quá, về mặt thống kê là không chấp nhận được. Nhìn vào đằng sau "sai số" này, có khả năng đó là do doanh nghiệp và người dân đã chuyển danh mục đầu tư sang vàng và USD. Điều nguy hiểm này không do tác động từ bên ngoài mà chính từ gói hỗ trợ 4% lãi suất. Khi một doanh nghiệp có USD nhưng có thể vay được VND với lãi suất thấp và biết rằng 6-12 tháng sau VND còn mất giá nữa thì họ chẳng có lý do gì để bán ra USD, đấy là lý do khiến nhu cầu tín dụng VND tăng đột biến. Và như vậy, chính sách bù lãi suất 4% đã có một tác dụng phụ mà ít người đề cập: Nó khiến cung về USD thì thấp mà cầu thì cao. Đáng nói hơn, nó còn làm thay đổi cách hành xử của doanh nghiệp và người dân, đó là chuyển danh mục đầu tư sang vàng và USD, tạo sự mất cân đối lớn trong cán cân thanh toán, và đây chính là sức ép lớn nhất khiến VND giảm giá ở thời điểm này".

 


Ông Trương Văn Phước: "Cần sớm ban hành một khuôn khổ pháp lý phù hợp để điều chỉnh hoạt động kinh doanh vàng".

Những tháng cuối năm 2009, giá vàng cả thế giới lẫn trong nước tăng mạnh. Ngoài tác động về giá liên thông với thế giới, giá vàng trong nước còn chịu ảnh hưởng không nhỏ từ các sàn vàng. Là người đứng đầu một ngân hàng lớn, có mở sàn vàng, nên ông Trương Văn Phước nắm rất rõ điều này. Theo ông Phước, nguyên nhân của cơn "sốt vàng" vừa qua bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã được phép giao dịch gấp nhiều lần so với số vốn tự có, điều mà giới kinh doanh gọi là "đòn bẩy tài chính". Chỉ cần có 200 triệu đồng, tương đương 7 lượng vàng, một nhà đầu tư đã được phép vay thêm tối đa 93 lượng vàng để giao dịch. Giả sử nhà đầu tư này vay vàng và bán với giá 24 triệu đồng/lượng, chờ giá xuống sẽ mua trả lại và thu lời. Khi giá vàng tăng lên đến 27 triệu đồng/lượng, người này bắt buộc phải mua vào để "dừng lỗ" (stop loss). Nhiều người cùng mua một lúc sẽ đẩy giá càng tăng cao, tiếp tục khiến nhiều người khác phải mua vào để dừng lỗ, tạo một phản ứng dây chuyền cộng hưởng, đẩy giá vàng tăng vọt. Khi phản ứng đó xảy ra, người mua nhiều mà người bán gần như không có, lấy đâu ra vàng để bán cho người cần mua? Ngân hàng buộc phải tung vàng ra bán để dập cơn sốt vàng ảo. Sau đó, ngân hàng phải tìm mua vàng trên thị trường để bù đắp nguồn tiết kiệm vàng mà người dân đã gửi vào ngân hàng, dẫn đến tình trạng buôn lậu vàng, gom USD để nhập vàng, đẩy tỷ giá tăng cao...

 

Khởi thủy, sàn vàng hoạt động theo phương thức khớp lệnh, khi người bán và người mua gặp nhau ở một mức giá. Khoảng một năm trở lại đây, các nhà đầu tư có xu hướng cùng bán hoặc cùng mua, khiến ngân hàng phải tham gia, vì nếu không thực hiện được giao dịch, nhà đầu tư sẽ bỏ qua sàn khác. Từ vai trò "người quan sát", ngân hàng bất đắc dĩ phải đứng ra làm người khớp lệnh, và rủi ro từ đó phát sinh. Theo ông Phước, một khuôn khổ pháp lý phù hợp cần được sớm ban hành để điều chỉnh hoạt động kinh doanh  sàn vàng.

 

Ba mục tiêu của năm 2010 và niềm tin vào sự dẻo dai của nền kinh tế

 

"Các chính sách của Chính phủ trong năm 2010 tựu trung nhằm phục vụ ba mục tiêu chính, thứ nhất là tăng trưởng GDP 6,5%, thứ hai là giữ chỉ số giá (CPI) ở mức 7%, thứ ba - điều tối quan trọng - là làm sao để kinh tế bình ổn", ông Vũ Thành Tự Anh mở đầu cho phần bàn về tương lai nền kinh tế trong năm 2010 như vậy. Ông nói tiếp: "Hai tiêu chí tăng trưởng và lạm phát, chúng ta đã phân tích, chỉ còn chờ những chính sách tháo gỡ của Nhà nước. Còn để thực hiện tiêu chí bình ổn, nhìn các động thái chính sách khoảng một tháng gần đây, một yếu tố quan trọng của Ngân hàng Nhà nước là tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%, con số 1% ấy về mặt định hướng là đúng (nới rộng chênh lệch giá giữa tiền đồng và USD). Kế đến là quyết định bỏ chính sách bù lãi suất 4%, đó là điều đáng ra nên làm từ lâu. Cái thứ ba rất quan trọng là tín hiệu thắt chặt tín dụng bắt đầu được những nhà điều hành nền kinh tế đưa ra. Thắt chặt để ổn định vĩ mô thì đúng rồi, nhưng kể cũng buồn cho nền kinh tế Việt Nam: khi người ta lạnh thì mình ấm, nay khi người ta ấm thì mình lại lạnh. Đáng lẽ ra đây là thời điểm cần phải có một dư địa về chính sách, nhưng do chúng ta đã dùng hết lực, đấm ra hết cỡ rồi, giờ đành phải co tay lại, muốn vung thêm cũng không thể. Lúc kinh tế thế giới bắt đầu đi lên thì mình lại thắt chặt, thật đáng tiếc...".

 

Ông Huỳnh Bửu Sơn đồng tình: "Khi Nhật, Anh, Mỹ... hạ lãi suất thì mình lại tăng" và ông thể hiện sự ngạc nhiên pha lẫn tiếc nuối khi năm 2007, đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam tăng đột biến thì chúng ta dè dặt mua USD. Theo ông Sơn, đấy là thời cơ để Việt Nam tăng mạnh kho dự trữ ngoại tệ để phòng khi các nguồn ngoại tệ chuyển vào nền kinh tế nước ta giảm xuống.

 

Ông Vũ Thành Tự Anh: "Tỷ giá USD/VND đang chịu sức ép mạnh do thâm hụt cán cân thanh toán".

 

Đi sâu phân tích khả năng phát triển của kinh tế Việt Nam năm 2010 trong mối tương quan toàn cầu, ông Trần Sĩ Chương cho rằng sức khỏe kinh tế Việt Nam sớm phục hồi hay không tùy vào kinh tế thế giới và theo ông Chương, kinh tế thế giới sẽ còn ì ạch trong ít nhất là hai năm và khó thể phục hồi theo hướng tăng trưởng mạnh trong năm tới. Điển hình là ở Mỹ, kinh tế thật sự đã đụng đáy. Số người thất nghiệp không tăng lên nữa, những chỉ số khác cũng có dấu hiệu tích cực tương tự. Tuy nhiên, điều đáng nói là tỷ lệ thất nghiệp rất cao, con số chính thức là 10% nhưng thực tế có thể lên đến 15%. Tính ra, ở Mỹ, cứ sáu người đi làm phải nuôi một người. Bên cạnh đó, gói kích cầu của Tổng thống Barack Obama nghe thì rất lớn nhưng thực chất chỉ đầu tư vào nhóm cơ sở hạ tầng nhỏ lẻ, chứ không tạo những "quả đấm thép" như trước kia, chẳng hạn xây dựng những xa lộ liên bang, vừa tạo rất nhiều công ăn việc làm, vừa mở ra rất nhiều cơ hội làm ăn cho cả vùng sau khi "lộ thông, tài thông".

 

Là chuyên gia kinh tế từng làm việc hàng chục năm ở Mỹ, nên ông Chương có thể phân tích sâu về nội tình nước này. Ông nhận định, về hiệu quả, gói kích cầu do chính phủ Mỹ đưa ra có thể kìm hãm nạn thất nghiệp, nhưng không đủ sức giúp Mỹ thoát khỏi gánh nợ công đang ngày càng tăng. Đặc biệt, năm 2010 là năm bầu cử giữa nhiệm kỳ, có thể ông Obama sẽ bị "trói tay trói chân" vì chính sách nào đưa ra cũng sẽ bị các thành viên đảng Cộng hòa "chọc phá", nhằm làm giảm uy tín đảng Dân chủ để có thể giành lại quyền kiểm soát ở ít nhất một viện (Hạ viện hoặc Thượng viện). Đó là chưa kể thị trường bất động sản thương mại là một trái bom sắp sửa nổ mà chưa nổ. Những loại tài sản không chứng khoán hóa nay hiện mất giá, nên giá trị thực thua xa giá trị trên sổ sách. Tóm lại, tình hình nước Mỹ vẫn còn rất bấp bênh.

 

Còn nhiều thách thức như vậy, nhưng không phải không có những điểm sáng, mà việc nguồn vốn ODA cho Việt Nam tăng trở lại trong năm tới, theo ông Huỳnh Bửu Sơn, là một tín hiệu tốt. Việc các nhà tài trợ tin tưởng vào tương lai nền kinh tế Việt Nam sẽ ảnh hưởng tích cực đến những yếu tố khác. Điều thứ hai và rất quan trọng, theo ông Sơn, là nền kinh tế ngầm của Việt Nam có một sức chiến đấu rất cao. Theo số liệu do ông Vũ Thành Tự Anh cung cấp, lượng tiền mặt trong lưu thông của nước ta xấp xỉ 60% GDP, đó là chưa kể một lượng vàng và ngoại tệ rất lớn trong dân. Nếu như việc người dân giao dịch làm ăn không qua ngân hàng khiến hệ thống ngân hàng khó phát triển, thì mặt tích cực của vấn đề là khiến nền kinh tế của nước ta luôn - theo từ dùng của ông Tự Anh - rất dẻo dai. Nếu được tạo điều kiện bằng các chính sách hợp lý, ổn định, thì mức tăng trưởng GDP 6-7% trong năm 2010 không khó để thực hiện. Ông Huỳnh Bửu Sơn rất đồng tình với hình tượng "dẻo dai" này và cho rằng niềm tin của chúng ta đặt vào sự dẻo dai đó của nền kinh tế, còn ông Phan Chánh Dưỡng cũng thể hiện sự lạc quan rằng chúng ta đã có kinh nghiệm một năm sống trong tình trạng cả thế giới đều bị khủng hoảng và đạt được mức tăng trưởng kinh tế khá, nên sẽ vững bước vào tương lai. Ông Trương Văn Phước thì tin tưởng, rằng chúng ta có khả năng kiềm chế lạm phát tốt trong năm 2010 và đạt được mức tăng trưởng 6,5%.

 

Những động thái cuối cùng trong năm 2009 của những nhà làm chính sách, như tạo điều kiện và khuyến khích tiêu dùng hàng nội địa, can thiệp để chấn chỉnh sàn vàng, bắt đầu cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu vay vốn bằng USD (với điều kiện khi vay ngoại tệ phải bán lại cho ngân hàng để nhận tiền đồng) nhằm tăng nguồn cung ngoại tệ..., là những dấu hiệu lạc quan, cho thấy những chính sách đang và sẽ góp phần lành mạnh hóa và bình ổn kinh tế. Nếu cơ cấu kinh tế nước ta có được sự chuyển dịch tích cực để phát triển bền vững (cân đối được cán cân thương mại, chi tiêu ngân sách lành mạnh...) thì cộng thêm với sức mạnh tiềm tàng, dẻo dai của nền kinh tế luôn biết cách đứng vững, vượt qua khó khăn, thách thức trong quá khứ, chúng ta có thể tin vào sự vượt sóng kiên trì của kinh tế Việt Nam.

 

LY LAM (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)

* Tranh Hoàng Tường

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu