Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Những “người Mỹ trầm lặng” và cây cầu bắc qua vực sâu hận thù

10/01/2010 26 phút đọc Theo: Tuần Việt Nam
Trong cuộc trò chuyện của bốn nhà thơ Việt Nam và Mỹ, những dòng ký ức tuôn trào, những dự định, mong muốn, khát vọng
Những “người Mỹ trầm lặng” và cây cầu bắc qua vực sâu hận thù

Trong cuộc trò chuyện của bốn nhà thơ Việt Nam và Mỹ, những dòng ký ức tuôn trào, những dự định, mong muốn, khát vọng đều để nói lên một điều: hòa bình mãi là mục đích; văn hóa, văn học nghệ thuật chính là phương tiện để đạt mục đích đó.

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Kính thưa bạn đọc VietNamNet, trong những ngày này, ở Hà Nội, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, có một sự kiện rất đặc biệt mà những người đang đặt vấn đề với văn hoá và văn học Việt Nam sẽ quan tâm. Đó là Hội nghị truyền bá văn học Việt Nam ra thế giới, do Hội nhà văn VN tổ chức.

 

Hơn 100 nhà văn, nhà thơ, dịch giả từ rất nhiều quốc gia trên thế giới đã đến đây để cùng nhau bàn luận về sứ mệnh của văn học trong mối quan hệ giữa các dân tộc, giữa con người với con người, cũng như nói về trách nhiệm và niềm đam mê của họ trong việc truyền bá văn học của một dân tộc này tới một dân tộc khác.

 

Trong những đại biểu quốc tế đến Việt Nam, có thể nói đoàn các nhà văn, nhà thơ, dịch giả Mỹ là đông đảo nhất. Nhưng còn có một điều đặc biệt hơn nữa là trong suốt hơn 30 năm qua, kể từ khi chiến tranh kết thúc năm 1975, rất nhiều người Mỹ, đặc biệt là những nhà văn, nhà thơ Mỹ, đã tìm cách lý giải cuộc chiến tranh đó, hơn nữa là lý giải về dân tộc Việt Nam. Và họ khẳng định rằng Việt Nam không phải là một đất nước của chiến tranh, Việt Nam là đất nước của một nền văn hoá, đất nước của thi ca, văn chương, đất nước của những bản tình ca, ca dao, dân ca..., nơi người Việt Nam vẫn đang thừa hưởng và sáng tạo, nơi bạn bè quốc tế đến để chia sẻ.

 

Và hôm nay, chúng ta có một cuộc Bàn tròn nói về những người đã xây nhịp cầu tâm hồn giữa hai dân tộc Việt Nam - Mỹ, hai dân tộc có một lịch sử rất đặc biệt - một cuộc chiến tranh nặng nề và khốc liệt nhất của loài người trong thế kỷ XX. Nhưng sau cuộc chiến tranh đó, cả hai dân tộc nhận ra rằng điều cả hai cần là một nền hoà bình chứ không phải là một cuộc chiến, và một nền hoà bình thực sự phải được tạo ra bởi văn hoá. Và sự chia sẻ văn hoá, chia sẻ khát vọng hoà bình của mỗi dân tộc là nền tảng cơ bản nhất để nhân loại từ xưa đến nay xây dựng nên một thế giới mà chúng ta mong hưởng.

 

Từ trái sang: Nhà thơ Kevin Bowen, nhà thơ Bruce Weigl, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và
nhà thơ Nguyễn Bá Chung trong cuộc Bàn tròn trực tuyến. Ảnh: Lê Anh Dũng

 

Thay mặt VietNamNet, tôi vô cùng cám ơn và trân trọng giới thiệu ba vị khách đặc biệt của chúng ta: nhà thơ, cựu binh Mỹ Kevin Bowen - tiến sĩ văn học, giáo sư văn chương của ĐH Massachussetts, đồng thời là Giám đốc trung tâm William Joiner; nhà thơ Bruce Weigl, giáo sư của ĐH Ohio và nhà thơ, tiến sĩ Nguyễn Bá Chung, một người Mỹ gốc Việt. Họ sẽ mang đến cho chúng ta một cái nhìn có thể chưa phải là tất cả nhưng chắc chắn đúng đắn và sâu sắc nhất về những gì mà những người Mỹ yêu hoà bình, có cảm tình với Việt Nam, tôn trọng nền văn hoá của mọi dân tộc đã làm để truyền bá nền văn học nói riêng, và nền văn hoá nói chung của Việt Nam vào nước Mỹ, vào các tầng lớp xã hội của Mỹ để người Mỹ có cái nhìn đúng đắn, rõ ràng, sáng tỏ hơn về dân tộc Việt Nam sau cuộc chiến, từ đó tác động rất lớn vào việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Tất cả những gì chúng ta đạt được trong quan hệ Việt - Mỹ cho đến bây giờ, họ chính là những người đóng góp một cách lặng lẽ nhưng vô cùng to lớn.

 

Như chúng tôi đã đề dẫn, trước khi quan hệ hai nước được bình thường hoá là một giai đoạn dài căng thẳng và giá lạnh như cách nhìn của rất nhiều người và cả của cá nhân tôi. Trong lúc đó, các chính trị gia, các nhà ngoại giao chưa thể cất tiếng với công chúng Mỹ, với các tầng lớp xã hội Mỹ về dân tộc mình thì các nhà văn chính là những sứ giả hoà bình đầu tiên đặt chân đến nước Mỹ. Họ đến không phải để nói về chuyện ai thắng ai thua trong cuộc chiến tàn khốc ấy, mà đến để nói về vẻ đẹp của văn hoá, của đời sống tinh thần người Việt Nam, để mang thông điệp của dân tộc Việt Nam đến toàn thế giới và đặc biệt cho nước Mỹ rằng hơn bao giờ hết, dân tộc Việt Nam là một dân tộc khát vọng hoà bình và yêu văn hoá.

 

Thức tỉnh bởi sự thật và thôi thúc nói ra sự thật

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Câu hỏi đầu tiên bạn đọc và tôi muốn dành cho nhà thơ Kevin Bowen. Ông đã là một người lính tham gia trong cuộc chiến tranh Việt Nam nhưng ông cũng là một người lính đã phản đối cuộc chiến tranh đó và tham gia phong trào phản chiến. Điều gì đã đánh thức ông để nhìn nhận lại cuộc chiến mà chính mình đã tham gia?

 

Nhà thơ Kevin Bowen: Ngay khi đặt chân đến Việt Nam thời điểm đó, tôi đã bị sốc khi nhìn thấy những điều khác hẳn với những gì tôi đã được nghe, và cũng khác hẳn với những gì tôi được dạy dỗ. Lần đầu tiên gặp những người Việt Nam, tôi thấy họ thật nhỏ bé giữa những chiến trường khốc liệt.

 

Thái độ của những quan chức, những người lính, những người đầu tiên tôi gặp bên phía Mỹ, đối với người Việt Nam không phải là thái độ của những người mà tôi phải tôn trọng hay là thái độ mà người Mỹ ở quê hương tôi coi trọng. Có thể nói đó là thái độ phân biệt chủng tộc.

 

Tôi có cảm giác rằng người Việt Nam biết rằng họ không được tự do, rằng họ đang bị chiếm đóng, nhưng sâu trong mắt họ, những người Việt Nam đầu tiên tôi gặp, tôi nhìn thấy cả một nền văn hoá, lịch sử, tình cảm đáng trân trọng.

 

Là một người lính, khi tôi ra chiến trường cùng với đơn vị của mình, tôi nhận ra rằng chúng tôi đã tàn phá đất nước này. Tôi vẫn còn nhớ rõ cảm giác của mình khi hành quân hay khi bay ngang qua những vùng đất và nhìn thấy tận mắt sự phá huỷ của bom đạn, nhìn thấy những đoàn người sơ tán cùng với gia súc, trên những chiếc xe tải. Những điều đó khiến tôi rất đau lòng dù lúc đó tôi chưa ở Việt Nam đầy một tuần.

 

Và đó cũng là cảm giác chung của rất nhiều người lính mà tôi chiến đấu cùng. Chúng tôi ở Việt Nam chỉ là để giữ mạng sống cho nhau, cố gắng càng ít gây ra thiệt hại càng tốt và sống sót để trở về và nói sự thật với những người ở nhà.

 

Nhà thơ Kevin Bowen. Ảnh: Lê Anh Dũng

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Tôi biết rằng sau khi trở về Mỹ, ông đã vừa đi học vừa bán trái cây trong mùa hè để tiết kiệm tiền cho chuyến đi đến Paris năm 1972 với mong đợi về một hiệp định hoà bình thực sự cho đất nước Việt Nam. Nhưng ông đã  trở về Mỹ với nỗi thất vọng. Rồi ông bắt đầu viết những bài thơ về đất nước Việt Nam, về hoà bình cho mọi dân tộc trên thế giới. Ông có thể kể cho độc giả VietNamNet biết ông đã bắt đầu như thế nào?

 

Nhà thơ Kevin Bowen: Tôi bắt đầu làm lính trong chiến tranh Việt Nam vào mùa thu năm 1968, khi các cuộc đàm phán mới bắt đầu, lúc họ mới chỉ đang tranh cãi về hình dáng cái bàn mà họ sẽ ngồi thảo luận. Tôi thấy không có gì lố bịch hơn việc ngồi bàn cãi những chuyện như thế trong khi bao nhiêu người vẫn phải chết. Tôi đã có cảm giác y hệt như vậy khi nước Mỹ đưa được người lên mặt trăng, tôi đã nghĩ đưa người lên mặt trăng thì giúp ích được gì cho hoà bình trên trái đất?

 

Tôi cảm thấy rất lo âu khi trở về nước mà biết rằng bạn bè mình vẫn phải ở đây, cuộc chiến vẫn tiếp diễn và nước Mỹ vẫn đi bắt nạt các nước khác như thường lệ. Suốt một mùa hè tôi cùng vài người bạn rong xe tải đi bán trái cây để tiết kiệm tiền đến châu Âu, đến Paris chỉ để đứng bên ngoài hội nghị và biết rằng các đồng đội của mình vẫn sẽ phải ở đó, và đất nước kia vẫn sẽ phải tiếp tục chịu đựng đau thương.

 

Tôi biết rằng những cảm giác, kinh nghiệm của tôi, rất nhiều người cũng chia sẻ, nhưng không biết gọi nó lên bằng từ ngữ gì. Có lẽ nghĩa vụ của tôi chính là tìm ra được những từ ngữ để nói được sự thật. Tôi không thể tìm được chúng cho đến khi tôi quay trở lại Việt Nam năm 1987. Suốt những năm trước đó, những bài thơ tôi viết dường như đều thiếu một cái gì đó, dường như tôi chưa thể đưa được cả con người mình vào thơ.

 

Tôi trở lại Việt Nam năm 1987, vào đúng đêm giao thừa như tôi đã đến Việt Nam lần này. Tôi lại được đứng trên mảnh đất này, và tôi bắt đầu tìm được từ ngữ, ngôn ngữ cho những suy nghĩ của mình, không chỉ là ngôn ngữ cảm xúc mà còn là những gì miêu tả đất nước Việt Nam mà chiến tranh đã khắc thành một phần trong con người tôi. Tôi đã thật may mắn gặp được những người Việt Nam sẵn sàng mở lòng chia sẻ với tôi về cuộc chiến, bất chấp quá khứ đau thương giữa hai dân tộc, và ở Mỹ cũng có những người như Bruce Weigl, đang viết thơ về cuộc chiến tranh đó.

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa nhà thơ Nguyễn Bá Chung, ông sẽ có một cái nhìn riêng biệt vì ông là một người Việt Nam cho dù ông đã sang Mỹ từ lúc mới chỉ là học sinh, bởi vì cuộc chiến tranh đó, và mãi sau này mới có cơ hội trở về Tổ quốc. Trong thời gian mà cuộc chiến tranh Việt Nam đang diễn ra khốc liệt hơn bao giờ hết, là một người Việt Nam sống ở Mỹ, ông có cách nhìn như thế nào về cuộc chiến này?

 

Nhà thơ Nguyễn Bá Chung: Thứ nhất, lúc đó tôi mới đậu thạc sĩ và đang làm luận án tiến sĩ, sau đó tôi bỏ không làm tiếp.

 

Thứ hai, tôi là người, theo một nghĩa nào đó là may mắn, đã trải qua tất cả các quan điểm về cuộc chiến tranh. Tôi vốn sinh ra ở miền Bắc và theo gia đình di cư vào miền Nam khoảng năm 1954-1955 rồi được học bổng sang du học Mỹ.

 

Lúc tôi sang Mỹ học là tôi rất chống Cộng. Tôi lớn lên ở miền Nam nên học tất cả những quan điểm ở miền Nam. Chỉ đến khi sang Mỹ tôi mới có cơ hội đọc những cuốn sách sử về chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là từ thời kháng Pháp, quan điểm của tôi bắt đầu thay đổi. Chính nhờ những cuốn sách người Tây phương viết về cuộc chiến tranh kháng Pháp, cái nhìn của tôi về cuộc chiến tranh đã hoàn toàn thay đổi ngược lại, và tôi đã tham gia phong trào phản chiến ở Mỹ.

 

Trách nhiệm của một người Việt Nam sống ở Mỹ lúc đó mà tôi cảm nhận được là làm sao để cho người Mỹ phải rút khỏi Việt Nam vì sự hiện diện của người Mỹ chỉ đem lại đau khổ, bom đạn và chết chóc cho người Việt mà thôi.

 

Lúc đó trên cả nước Mỹ chỉ có một trung tâm công của nhà nước lập ra để phục vụ cho quyền lợi của cựu binh nhưng lại phản chiến, đó chính là Trung tâm William Joiner. Qua trung tâm, tôi đã có cơ hội gặp những người từ trong nước sang.

 

Nhà thơ Nguyễn Bá Chung. Ảnh: Lê Anh Dũng

 

Những vần thơ khát khao hòa bình

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Tôi nhớ nhà thơ Bruce Weigl có một bài thơ viết về những năm tháng chiến tranh với một giấc mơ và khát vọng về hoà bình. Một bài thơ thật đẹp nhưng cũng thật đớn đau. Ông viết về một cái ổ cỏ mà một con hươu đã nằm ở đó dưới bóng một cây táo dại. Ông kháo khát được trút bỏ bộ quân phục và súng ống để nằm xuống cái ổ cỏ đó và chìm vào giấc ngủ để quên đi sự tàn bạo của chiến tranh.

 

Nhà thơ Bruce Weigl: Đúng vậy. Nhưng tôi lại muốn nói về một bài thơ khác. Đó là bài thơ "Những người đạp xe" (Him on the Bicycle), nói về một kỷ niệm của tôi khi là một người lính. Khi đó tôi và đồng đội đang ngồi trên trực thăng và nhìn xuống thấy một vài người lính miền Bắc Việt Nam đang đạp xe. Chúng tôi thì đang ở trong một chiếc trực thăng đắt tiền trang bị vũ khí tối tân, còn dưới kia là năm người đàn ông đạp xe mang vũ khí vào trong rừng sâu. Khi nhìn thấy họ, tôi đột nhiên hiểu ra điều gì đó về cuộc chiến: Những con người giản dị với những vũ khí giản đơn kia đang chiến đấu chống lại một trong những đội quân hiện đại nhất thế giới và họ đang tiến gần đến chiến thắng. Và khi quan sát họ, tôi thấy thật ghen tị.

 

Giống như Kevin, tôi cũng cảm thấy thất vọng với những kế hoạch của Mỹ ở Việt Nam. Tôi thấy nó liên quan nhiều đến việc làm cho một số người giàu lên hơn là giải phóng bất cứ ai. Tôi thấy vừa thông cảm, vừa ghen tị với những người đàn ông đang đạp xe kia. Dường như họ có được sự tự do mà tôi không có. Trong tâm trí của mình, tôi muốn được cùng đạp xe với họ.

 

Thơ ca cho phép chúng ta làm những gì mình muốn, vì thế trong bài thơ của mình tôi đã được đạp xe cùng họ, và tôi cảm thấy vô cùng tự do, tôi còn giúp một người trong số họ đạp xe nhanh hơn. Chúng tôi đạp xe nhanh đến nỗi nón của anh ta bay ra khỏi đầu vì gió, nhưng tôi đã bắt kịp và đội chiếc nón đó lên đầu mình. Chúng tôi đạp xe thật nhanh về phía đồng bằng và tôi đã biến mất vào cuộc sống đó.

 

Với bài thơ đó, tôi muốn nói rằng có những người Mỹ thông cảm với những người bên kia chiến tuyến, rằng chúng tôi cũng hiểu phần nào cuộc chiến gian khổ của họ.

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Tôi cũng rất xúc động khi đọc bài thơ này, chia sẻ với sự thèm khát của một người lính Mỹ được cùng đạp xe với những người Việt Nam trên đường mòn và khi chiếc nón của một người Việt Nam bay lên, một người lính Mỹ đã chụp lấy và đội lên đầu mình. Hình tượng thi ca đó chứa đựng đầy ý nghĩa của tình yêu thương và trân trọng với những con người của một dân tộc khác. Và ngay trong thời gian chiến tranh, Bruce Weigl đã rất nổi tiếng với bài thơ "Bài ca bom Napan" (Songs of Napalm)...

 

Nhà thơ Bruce Weigl: Tôi đã rất muốn viết một bài thơ về bom Napan vì tôi nghĩ cái mùi của bom Napan chính là mùi của chiến tranh. Tôi đã cố thử nhiều lần nhưng thất bại, không thể tìm được cách đưa hình ảnh bom Napan vào thơ mà người đọc có thể hiểu được. Rồi mấy tháng sau đó, khi tôi đang nghĩ ngợi cho bài thơ, tôi tìm thấy trên bàn mình bức ảnh nối tiếng của Nick Út về một cô bé tên là Kim Phúc. Đằng sau cô bé là ngôi làng chìm trong khói lửa còn bản thân cô bé đã bị cháy bỏng da. Vì có rất nhiều người Mỹ biết đến bức ảnh đó nên tôi nghĩ nếu tôi có thể đưa cô bé đó vào bài thơ của mình thì tôi có thể làm cho mọi người hiểu về bom Napan.

 

Cô bé trong bài thơ của tôi chạy ra từ một ngôi làng bị ném bom với một cánh tay bị cháy xém và cô bé đã chết. Nhưng tôi rất hạnh phúc và cũng nhiều người biết rằng, Kim Phúc trong đời thực đã không chết.

 

Nhà thơ Bruce Weigl. Ảnh: Lê Anh Dũng

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Có một tập thơ không phải do các nhà thơ viết, mà là do những người lính chép lại trong những cuốn sổ tay. Đó là tập thơ được độc giả Mỹ đọc nhiều nhất. Ông là người đã dịch tập thơ này cũng với tiến sỹ Nguyễn Thanh. Điều gì đã thúc đẩy ông dịch những bài thơ của những người chưa bao giờ là nhà thơ?

 

Nhà thơ Bruce Weigl: "Thơ từ những tài liệu bị thu giữ" (Poems from captured documents) là một tuyển tập thơ do tôi và một nữ đồng nghiệp trẻ tên là Nguyễn Thanh cùng nhau biên soạn trong ba năm. Ở trung tâm William Joiner lưu giữ một số vi phim chứa hàng triệu tài liệu thu giữ được từ những tù binh, bị thương hoặc bị giết trong thời gian chiến tranh.

 

Khi tôi đến thăm trung tâm, Kevin đã hỏi tôi có quan tâm đến việc cùng với Nguyễn Thanh khai thác những tư liệu đó không. Khi tôi xem qua những tài liệu đó, tôi thấy có bản đồ, danh sách quân trang quân dụng và cả những thứ trông rất giống những bài thơ. Tôi đã hỏi Nguyễn Thanh liệu đó có phải là thơ không. Cô ấy nói đó đúng là những bài thơ, những người lính đã viết chúng để bộc lộ nỗi buồn khi phải xa nhà, bộc lộ tình yêu quê hương của họ và khát vọng về một ngày không tiếng súng. Tôi thấy rất xúc động. Tôi đã nhờ cô ấy dịch thô vài đoạn ra tiếng Anh và đó thực sự là những vần thơ tuyệt đẹp. Tôi đã nghĩ việc dịch và xuất bản một vài bài thơ trong đó sẽ là một ý tưởng hay.

 

Đã có rất nhiều những bộ phim, cuốn sách, bài hát... nói về tâm trạng của người lính Mỹ, nhưng lại không có gì để biết được tâm trạng của những người lính bên kia chiến tuyến. Cuốn sách này đã chỉ ra rằng họ cũng có suy nghĩ và tình cảm như chúng tôi thôi. Họ cũng cô đơn trong chiến tranh, buồn khổ vì phải xa gia đình, họ chỉ muốn về nhà và sống yên bình. Tôi hy vọng là những người đã đọc cuốn sách này sẽ hiểu rõ hơn những gì mà những người lính Việt Nam đã cảm thấy.

 

Tôi đã viết, biên tập và tham gia dịch khoảng 25 cuốn sách thơ, hồi ký, phê bình văn học, nhưng đây là cuốn sách khiến tôi tự hào nhất.

 

Chữa lành vết thương và trả nợ ân tình

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Có một nhà thơ Mỹ khác, ông Larry Heinemann, cũng đến Việt Nam tham dự hội nghị lần này và cũng đã xin một học bổng để nghiên cứu về truyện cổ tích Việt Nam. Ông ấy kể rằng sau chiến tranh, ông trở về Mỹ và làm nghề lái xe buýt, nhưng trong mỗi vòng quay của bánh xe, ông đều thấy máu chảy trong đó. Còn với ông, ám ảnh của cuộc chiến tranh đã chạy đuổi theo ông đến tận đâu?

 

Nhà thơ Bruce Weigl: Để tôi kể một câu chuyện để trả lời câu hỏi này. Hôm qua, tôi cùng kevin và con gái tôi, Nguyễn Thị Hạnh, về quê của cô bé, Trung Lương, Hà Nam để thăm mộ mẹ cô. Đó là một ngày thực sự xúc động đối với tất cả chúng tôi, nhưng xúc động theo kiểu khác đối với tôi và Kevin, khi đi trên những con đường nông thôn, với những hàng cây mà trước đây có thể có rất nhiều lính du kích đang mai phục. Hơn 30 năm đã qua rồi mà giờ đây, chiến tranh lại như ập về với chúng tôi.

 

Điều đó có nghĩa là không ai có thể hồi phục hoàn toàn sau chiến tranh, chúng tôi vẫn sẽ phải mang cuộc chiến trong mình. Khi chúng tôi trở về nhà, mọi người đều bảo hãy cố gắng để lại sau lưng cuộc chiến. Chúng tôi đã cố gắng nhưng rồi chúng tôi hiểu rằng mình phải chấp nhận nó như một phần của con người mình. Chúng tôi phải học cách sống chung với nó.

 

May cho tôi là những bánh xe buýt chỉ là thơ ca. Tôi đã tìm thấy sự cứu vớt, tôi đã biết rằng mình có thể nói về người Việt Nam một cách nhân bản và chia sẻ bằng thơ ca với độc giả Mỹ.

 

Sau chuyến trở lại Việt Nam đầu những năm 1990, Việt Nam dần có ý nghĩa đối với tôi như một đất nước, chứ không phải là một cuộc chiến tranh nữa. Nhờ những người như Kevin Bowen, người đã lập ra Trung tâm William Joiner, người Mỹ đầu tiên đưa các nhà văn miền Bắc Việt Nam đến Mỹ, nhờ những người bạn như Nguyễn Bá Chung và Nguyễn Quang Thiều, tôi đã có thể tiếp cận những góc cạnh sâu sắc nhất của văn hoá Việt Nam. Giờ đây tôi thấy mình giống một người khách quen hơn là một kẻ xâm lược.

 

Nhà văn Nguyên Ngọc thuyết trình tại đại học Massachusetts. Ảnh Nguyễn Quang Thiều sưu tầm

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Với tất cả tình cảm của mình, ông đã tặng một món quà đặc biệt cho Việt Nam, đó chính là cô con gái Nguyễn Thị Hạnh của ông. Điều gì đã khiến ông nhận nuôi một cô bé Việt Nam và cô bé có vị trí như thế nào trong trái tim của ông?

 

Nhà thơ Bruce Weigl: Đó thực ra là món quà dành cho tôi. Khi chúng tôi bắt đầu quay trở lại Việt Nam vào đầu những năm 1990, Việt Nam chưa thực sự sẵn sàng chào đón khách Mỹ. Họ chẳng biết làm gì với chúng tôi cả. Trong chuyến thăm đầu tiên của tôi đến Việt Nam vào khoảng năm 1985-1986, chúng tôi phải ngồi nghe một bài giảng dài 5-6 tiếng đồng hồ gọi là giáo dục lại các lính Mỹ. Một trong những việc họ làm để giáo dục lại là đưa chúng tôi đến các trại trẻ mồ côi. Nhưng khi đến đó, những gì tôi nhìn thấy là những gương mặt trẻ thơ xinh xắn tươi cười rạng rỡ, tôi muốn ôm tất cả chúng vào lòng và mang chúng về nhà với tôi càng nhiều càng tốt.

 

Trở về nhà sau một trong những chuyến đi ấy, tôi đã hỏi vợ tôi liệu chúng ta có thể nhận nuôi một em bé Việt Nam không. Vợ tôi đồng ý. Chúng tôi đã phải trải qua một quá trình làm thủ tục nhận con nuôi rất dài và phức tạp, vì lúc đó những hàng rào giữa hai nước còn chưa được dỡ bỏ. May nhờ có những người bạn mà tôi đã làm quen trong những chuyến đi trước mà cuối cùng chúng tôi đã hoàn thành được quá trình đó.

 

Tôi luôn tâm niệm rằng mình phải làm gì đó để bù đắp cho Việt Nam bởi những thiệt hại mà tôi đã gây ra khi còn là lính chiến. Và còn gì tốt hơn là nhận nuôi một đứa trẻ mồ côi, dạy dỗ bé thật tốt, giữ cho bé vẫn là người Việt Nam, để một ngày nào đó bé sẽ trở về đóng góp cho quê hương. Năm ngoái, con gái tôi đã tốt nghiệp ngành Toán và Khoa học tại một trường ĐH rất danh tiếng của nước Mỹ. Bằng của con tôi là bằng Sinh học nhưng hiện nó đang tham gia dịch các bài báo cho báo của ông Nguyễn Quang Thiều ở Hà Nội.

 

Khi rời Việt Nam con gái tôi mới 8 tuổi, thế nên giờ con bé sẽ phải học cách để làm một người Việt Nam trưởng thành. Tôi nghĩ điều đó rất quan trọng đối với con bé, vì chúng tôi luôn muốn con bé là người Việt Nam chứ không biến thành người Mỹ. Giờ đây, nhờ những người bạn Việt Nam, con gái tôi đang dần làm được việc đó.

 

Nhà văn Lê Lựu tặng cuốn Thời xa vắng cho các nhà văn Mỹ. Ảnh Nguyễn Quang Thiều sưu tầm

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Tôi lại nhớ đến câu chuyện của một cựu binh Mỹ khi trở lại Việt Nam, trở lại đúng lối rẽ trên một con đường núi mà trước kia ông thường đi tuần qua. Ông luôn có cảm giác rằng sau lối rẽ kia sẽ có chuyện gì đó bất trắc, nguy hiểm xảy ra, thậm chí là cái chết. Với nỗi ám ảnh đó trong lòng bao nhiêu năm sau chiến tranh, ông quyết định quay lại Việt Nam và đi lại con đường đó. Thế rồi khi đi qua lối rẽ đó, ông bắt gặp một khung cảnh thật yên bình của một vùng thôn quê, có tiếng gà gáy, chó sủa, khói bếp cơm chiều, tiếng mẹ ru con, những người nông dân niềm nở... Ông trở về Mỹ và nói rằng, giờ tôi không còn một nỗi sợ nào với lối rẽ đó nữa. Thưa nhà thơ Bruce Weigl, trong ông liệu có một nỗi sợ như thế hay không? Và trong ông còn nỗi sợ gì đối với đất nước này vẫn ám ảnh ông từ thời chiến tranh hay không?

 

Nhà thơ Bruce Weigl: Câu chuyện mà anh kể về người cựu chiến binh Mỹ đó có lẽ cũng là câu chuyện của tôi. Tôi đã từng gặp ác mộng suốt 20 năm về những gì tôi đã thấy và làm trong chiến tranh. Tôi đã nghĩ rằng những ký ức đó sẽ không bao giờ mất đi, cho dù tôi có quay lại Việt Nam, vì có lẽ bộ não không chiều lòng chúng ta. Nhưng vào mùa đông khoảng năm 1985-1986, tôi quay trở lại Việt Nam và nhìn thấy trẻ em đang chơi đùa vui vẻ trên đường, bầu trời thì trong xanh không có bóng dáng máy bay hay khói lửa, thay cho tiếng bom đạn súng nổ là tiếng xích xe đạp lách cách trong không khí buổi sáng, đó là khi giao thông Hà Nội chưa đông đúc như bây giờ. Nỗi sợ lớn nhất của tôi giờ đây là tôi sẽ không sống đủ lâu để học được hết những điều hay về văn hóa và con người Việt Nam.

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa nhà thơ Kevin Bowen, trong một bài thơ viết về thành Cổ Loa, ông đã viết trong câu cuối rằng người Việt Nam đã có được cái lẫy nỏ thần của mình còn ông thì không có một cái lẫy nỏ nào. Vậy bây giờ ông đã có cái lẫy nỏ thần nào cho riêng mình chưa?

 

Nhà thơ Kevin Bowen: Tôi không chắc về cái lẫy nỏ thần, nhưng tôi đã tìm thấy một sự kỳ diệu khi tôi có thể, trong tâm trí và trong thực tế, coi Việt Nam như một chốn đi về. Tôi vẫn nhớ khi tôi đến Việt Nam trong những năm 1990, tôi đã cảm thấy như mình trẻ ra đến 10 tuổi. Vợ tôi rất vui vì điều đó, cô ấy nói tôi luôn như được trẻ lại và hạnh phúc mỗi khi tôi đến Việt Nam và trở về.

(còn nữa)

 

Tuần Việt Nam

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu