Bốn mươi sáu bài thơ viết trong khoảng thời gian từ 1993-2009 trước khi thành tập „Người xa xứ” *đã được tung lên mạng internet trong blog cá nhân mang tên giao_lieu. Tác giả của những bài thơ này – Nguyễn Lưu Giao – đã thể hiện tình cảm đối với nơi chôn rau cắt rốn bằng việc chọn Nhà xuất bản Nghệ An làm nơi khai sinh cho „đứa con tinh thần” của mình.
Tập thơ „Người xa xứ” ghi lại những xúc cảm của tác giả trong hoàn cảnh tha phương cầu thực, đất khách quê người - những tình cảm, tâm sự; những thiệt thòi, mất mát không gì có thể bù đắp. Nỗi buồn là cảm xúc chủ yếu trong tập thơ. Dấu hiệu đầu tiên của nỗi buồn là nước mắt. Tác giả khóc cho người, khóc cho mình, khóc cho một bông hồng...bằng „nước mắt khô” hay „nước mắt đẫm mi người xa xứ”, „nước mắt mặn môi / xoa dịu nỗi xót xa tha phương cầu thực”, „một vần thơ, bạn khóc ở Ba Lan / một vần thơ, bạn khóc về quê nhà xa vợi...cho ai khóc thầm từng đêm?”, „hạt cơm nhạt tênh / mà nước mắt thì mặn chát...nước mắt chắt vào lòng chua xót”, „rượu buồn như lệ đôi ba chén”, „trái tim nhỏ lệ”, „đêm tha hương sương mờ nước mắt”, „như con vượn khóc ghềnh bờ”, „khóc trong máu mắt.../ chỉ máu, nước mắt tràn”, „để khóc than sự đời...” Dấu hiệu thứ hai của nỗi buồn là sự cô đơn: cô đơn của người già „ bốn bức tường lẩn thẩn vào, ra” hay của vầng trăng „xanh xao, cô độc” . „Năm tháng đơn côi, già cỗi” hay „ chỉ một mình thôi, với nỗi nhớ héo hon”. Có khi là một bông hồng : „... Đơn côi dưới mưa”. Cũng có khi bật lên thành câu hỏi: „Một mình và chỉ một mình thôi / Còn ai tri kỉ nữa hả trời”... Và cùng với cô đơn là cảm giác bơ vơ, trống vắng: „Tình ơi! Sao xa lạ thế / Trống vắng quê người mình ta”. „Bơ vơ đâu phải mình ta với nàng”,”Để người ta mãi / Một mình bơ vơ”...
Người ta thường nói „văn là người”. Qua thơ, có thể thấy Nguyễn Lưu Giao khá ủy mị ( chẳng giống vẻ bề ngoài bặm trợn với cái đầu trọc lốc, thường vỗ ngực tự xưng giao_liều! ). Điều này có nguyên nhân của nó. Cuộc sống tha hương luôn luôn thử thách con người về tình cảm. Với những ai phải sống xa gia đình, vợ con, thử thách ấy càng nặng nề. Trong hoàn cảnh cụ thể của Nguyễn Lưu Giao, nó không còn là thử thách mà đã trở thành tai họa. Chấp nhận phiêu bạt xứ người để mong làm cho cuộc sống của gia đình mình ngày một tốt đẹp mà kết quả ngược lại:
"Cái đồ vợ bỏ nói làm chi Bao năm phiêu bạt vãi xuân thì Rượu chè, gái gẩm đều hay cả Tiền, tài không – trơ mỗi thân già” ( „Cái đồ bỏ đi”! ) Qua nhiều bài thơ, Nguyễn Lưu Giao nói về cảnh ngộ của riêng mình rất thật: sự tan vỡ của ảo tưởng, của hạnh phúc lứa đôi. Những bài viết về cuộc sống tha hương, nỗi nhớ con, nhớ nhà... như „Trăng quê”, „Trống vắng”, „Lang thang”... là những bài thơ khá xúc động.
Thêm một điều đáng nói: trong „Người xa xứ”, những bài thơ ngắn, ít triết lí lại là những bài được nhất.
Hi vọng rằng tập sách đầu tay sẽ là nguồn khích lệ tác giả trên con đường thơ đầy nhọc nhằn và cay cực.
Warszawa tháng 11 - 2009
Hoàng Trọng Hà ________________________________________________________ * Nguyễn Lưu Giao, „Người xa xứ”, Nhà xuất bản Nghệ An