Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Trần Dần càng ngày càng mới, càng Việt, càng trong...

02/03/2010 7 phút đọc Tháng 3/2010 Hữu Việt
Cũng trong ngày thơ ấy, sau khi loanh quanh cạnh tấm poster của Trần Dần hồi lâu, một thanh niên du học ở nước ngoài về
Trần Dần càng ngày càng mới, càng Việt, càng trong...

Cũng trong ngày thơ ấy, sau khi loanh quanh cạnh tấm poster của Trần Dần hồi lâu, một thanh niên du học ở nước ngoài về nói với tôi: “Anh ạ, xem các cụ sống cái tuổi trẻ thời xưa, nhìn lại mình thấy xấu hổ quá! Sống thế mới gọi là sống chứ!”

 

Nhà thơ Hữu Việt đã gửi tới Bee những câu chuyện riêng về người tiền bối Trần Dần: "Chúng ta vẫn nhớ về ông, đọc ông, trò chuyện về ông, soi mình vào cuộc đời của ông… Dễ mấy ai được như vậy?"

 

Cha tôi (nhà văn Hữu Mai) và nhà thơ Trần Dần có mối quan hệ khá đặc biệt. Hai ông cùng họ Trần, cùng quê Nam Định, cùng tuổi Dần. Cha tôi kể, nhà  ông Dần ở Nam Định giàu nổi tiếng, thời xưa có lúc một nửa số xe tay của thành phố là của nhà ông Dần.

Kháng chiến chống Pháp, hai ông cùng đi chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong cuốn “Không phải huyền thoại” (tiểu thuyết cuối cùng của cha tôi trước khi qua đời, xuất bản năm 2007), ông dành 2 chương viết về văn nghệ sĩ đi chiến dịch mà nhân vật trung tâm là ông Dần. Cha tôi thường kể lại câu chuyện ông Dần (khi ấy ngoài 30) đã quắc mắt phê một cán bộ lớn tuổi khi ông này so bì bữa cơm “tiểu táo” và “đại táo” (tiêu chuẩn của sĩ quan và chiến sĩ) và nhắc tới tính cách hơi “cứng” đồng thời cũng quyết liệt của ông Dần trước những vấn đề mang tính nguyên tắc. Những người biết ông hẳn thấy rằng, tính cách quyết liệt ấy luôn thể hiện trong thơ và ứng xử trong đời, trước thế mà sau này cũng thế!

 

a
Ông đã sáng tác trên tất cả những gì có thể: mẩu giấy, tờ lịch, một tờ hóa đơn bỏ đi… để làm thơ, vẽ, viết truyện ngắn, ghi nhật ký… Ảnh Nguyễn Đình Toán


Thêm một câu chuyện riêng nữa. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, cha mẹ tôi làm đám cưới, ông Dần mừng “to” nhất, 5 đồng bạc, lúc ấy tương đương với gần 1 tạ gạo. Thế nào mà đến khi ông Dần vướng chuyện Nhân văn giai phẩm, cha tôi lại được phân công viết bài phê bình ông. Cha tôi kể khi đó hỏi ông Dần: “Tao được phân công phê mày, nên viết cái gì?” Ông Dần bảo: “Cái Dạ đài là đáng đánh lắm”. Và cả hai cùng cười. Việc éo le như thế, âu cũng là câu chuyện của một thời.

Nhóm Dạ đài ông Dần cùng các bạn thơ thành lập năm ông 20 tuổi, nhiều người đã biết, không cần nhắc lại nữa. Nhưng cần nhắc lại Tuyên ngôn Dạ đài của nhóm do ông Dần chấp bút. Ngay từ khi còn rất trẻ, ông đã thể hiện nhân cách “thủ lĩnh”. Điều này một người bạn hoạn nạn thân thiết của ông và cũng là người thầy vô cùng kính trọng mà tôi may mắn được làm một học trò nhỏ - nhà thơ Lê Đạt, nhiều lần nhắc lại.

Năm 2007 chúng tôi tham gia tổ chức Sân thơ trẻ trong khuôn khổ Ngày thơ Việt Nam lần thứ 6. Cái tứ mà chúng tôi muốn hướng tới là làm một loạt poster về thời tuổi trẻ của các nhà thơ nổi tiếng, như một cách nhắc nhở và nhắn nhủ tới các nhà thơ trẻ hôm nay.

Tôi đến nhà nhà thơ Trần Dần để bổ sung một số tư liệu. Anh Văn (con trai lớn của nhà  thơ) đưa tôi lên buồng thư viện. Chúng tôi  để ra nửa ngày lần giở từng bó, từng bó bản thảo được gói trong những túi ni lông đen. 30 bó hay 40, 50 bó? Ông đã sáng tác trên tất cả những gì có thể: mẩu giấy, tờ lịch, một tờ hóa đơn bỏ đi… để làm thơ, vẽ, viết truyện ngắn, ghi nhật ký…

Nếu chúng ta biết ông phải làm việc trong điều kiện như thế nào thì hẳn chúng ta không thể hình dung ra nguồn năng lượng khổng lồ nào đã dẫn dắt sức sáng tạo phi thường để tạo ra những mẫu phẩm độc đáo, đặc sắc như vậy. Những trước tác mà số đông chúng ta được tiếp cận với ông hôm nay còn quá ít so với những gì ông để lại và chưa xuất bản.

Tôi đã mạn phép chọn những câu thơ tuổi 30 của Trần Dần: “Hôm nay/ Những câu thơ tôi viết/Đã giống lưỡi lê: đâm/ giống viên đạn: xé/giống bão mưa: gào/giống tình yêu: thắm” và trích từ trường ca Đi! Đây Việt Bắc: “Hãy sống như/ những con tàu/phải lòng/muôn hải lý/ Mỗi ngày/bỏ/phía sau lưng/ nghìn hải cảng/ mưa buồn”

Cũng trong ngày thơ ấy, sau khi loanh quanh cạnh tấm poster của Trần Dần hồi lâu, một thanh niên du học ở nước ngoài về nói với tôi: “Anh ạ, xem các cụ sống cái tuổi trẻ thời xưa, nhìn lại mình thấy xấu hổ quá! Sống thế mới gọi là sống chứ!” Với tôi, đây là nhận xét và cũng là thu hoạch lớn nhất của mình trong ngày thơ năm ấy!

Sáng tạo, nghĩa là phải không ngừng mới. Định hình một  phong cách đã khó. Dám từ bỏ nó còn khó hơn. Để rồi tạo lập ra một phong cách mới lại càng khó vô cùng. Nhưng ở Trần Dần, trong những tháng ngày hoạn nạn khó hình dung ấy, ông còn tạo ra nhiều phong cách mới. Chỉ bằng những gì chúng ta đọc và biết, từ những bài thơ niêm luật thời Dạ đài, đến thơ bậc thang Đi! Đây Việt Bắc, rồi Cổng tỉnh, Mùa sạch, Trần Dần - thơ… đã nói lên điều đó. Ông luôn chuyển động, dày vò, làm mới mình. Càng ngày ông càng trong, càng Việt, nhưng cũng càng khó hiểu với những thử nghiệm đi trước thời gian và thời đại của mình. Điều này thật phi thường!

Tôi nhớ đến đám tang ông. Năm 1997, một ngày Hà Nội âm u, giá buốt. Nhà thơ Khương Hữu Dụng khi ấy đã gần tuổi trăm đến viếng. Ông đến bên quan tài, khóc và đọc hai câu thơ cổ: Nhất thất cước thành thiên cổ hận/Tái hồi đầu thị bách niên thân (Lỡ một bước nghìn năm ân hận/Quay đầu lại đã thành người trăm năm). Thật ý nghĩa và sâu sắc.

Nhưng câu thơ viếng ông Dần ngày hôm nay theo cảm nhận của tôi có vẻ không đúng nữa. Chúng ta vẫn nhớ về ông, đọc ông, trò chuyện về ông, soi mình vào cuộc đời của ông… Dễ mấy ai được như vậy? Và nỗi sầu thiên cổ nếu có, hẳn cũng vợi đi nhiều…

Tôi có  được đọc một số bài viết nghiên cứu về  thơ Trần Dần. Để hiểu về một tài năng cách tân thơ như ông thật không dễ. Thơ của ông càng ngày càng giản dị và thâm hậu, càng phức tạp và biến hóa Tôi thấy những chìa khóa mà con trai ông, họa sĩ Trần Trọng Vũ cung cấp cho người đọc trong những bài viết ở cuốn Trần Dần – thơ là những gợi ý sâu sắc.

Tại cuộc tọa đàm Thơ Trần Dần tại Trung tâm văn hóa Pháp hôm 1/3 vừa qua, có người đặt câu hỏi: “Nếu không có những ngày tháng hoạn nạn ấy, liệu chúng ta có một Trần Dần như ngày hôm nay không?” Lẽ ra không nên đặt câu hỏi này bởi vì một đời người có biết bao biến cố khó lường. Nhưng nếu phải trả lời thì tôi nghĩ rằng: Hoạn nạn với người bình thường là tai họa, nhưng với những tài năng đích thực và nhân cách lớn thì đây là một món quà của tạo hóa để làm nên những việc phi thường.

Tháng 3/2010

Hữu Việt (Khoa học Đời Sống)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu