
"Tác giả bài viết và R. Kapuściński tại nhà riêng của nhà văn ở Varsava năm 2006"
Lời ban biên tập:
Nhà văn, dịch giả Nguyễn Chí Thuật sinh ngày 1 tháng 5 năm 1952 tại Lý Nhân, Hà Nam. Ông tốt nghiệp ngành Ngữ văn Ba Lan tại Đại học Tổng hợp Lodz năm 1977, bảo vệ luận án TS Ngữ văn Ba Lan tại Đại học Tổng hợp Varsava năm 1990, từ năm 1977 là giảng viên Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Đại học Hà Nội), giáo sư Đại học Adam Mickiewicz, Poznan từ 2005 đến nay
Về R. Kapuściński, Nguyễn Chí Thuật đã viết nhiều bài giới thiệu đăng trên báo Giáo dục &Thời đại, tạp chí Văn học Nước ngoài ... Năm 2008, kỷ niệm một năm ngày R. Kapuściński qua đời, ông đã chịu tránh nhiệm toàn bộ nội dung số đặc biệt của tạp chí Văn học Nước ngoài giới thiệu R. Kapuściński. Sinh thời Kapuściński coi dịch giả Nguyễn Chí Thuật là bạn vong niên, hai người đã có nhiều dịp gặp nhau, đàm đạo về văn chương. Nhà văn Ba Lan đã bày tỏ những tình cảm tốt đẹp đối với Việt Nam và lấy làm tiếc vì chưa có dịp đến Việt Nam. Năm 2009, Nhà xuất bản Znak xuất bản cuốn „Du hành cùng R. Kapuściński. Những câu chuyện kể của 14 dịch giả nước ngoài”, Nguyễn Chí Thuật là một trong số 14 người có bài viết in trong tập sách này.
Ryszard Kapuściński là nhà văn Ba Lan kiệt xuất chuyên viết phóng sự văn học. Nhờ tài năng đặc biệt của ông, thể loại văn học này đã được nâng lên tầm cao mới, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn học mới của độc giả khắp thế giới trong một thời đại đã có nhiều thay đổi. Bên cạnh Stanisław Lem, R. Kapuściński là nhà văn Ba Lan có tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài nhiều nhất. Tại Việt Nam, cuốn „Du hành cùng Herodotus” của ông, qua bản dịch của Nguyễn Thái Linh, cùng với một số trích đoạn tác phẩm khác đã được giới thiệu. Mấy chục năm trở lại đây, ông là cây bút mang lại vinh dự lớn cho văn học Ba Lan trên văn đàn thế giới. Trước khi mất (ngày 23 tháng 1 năm 2007), ông đã nhiều lần được đề cử nhận Nobel Văn học.
Những ngày vừa qua, tại Ba Lan, một sự kiện liên quan đến ông đã diễn ra và gây xôn xao dư luận. Đó là việc cuốn „Kapuściński non-fiction” của Artur Domosławski được ấn hành và ra mắt bạn đọc. Trước đó bà quả phụ Alicja Kapuścińska đã kiện tác giả cuốn sách ra tòa nhằm ngăn chặn không để nó được phát hành vì cho rằng tác phẩm chứa đựng nhiều chi tiết sai sự thật liên quan đến đời tư nhà văn, xúc phạm người đã mất. Nhưng trên cơ sở kết luận của tòa án, cuốn sách vẫn ra đời và gây ra hai luồng dư luận hoàn toàn trái ngược nhau. Những người phản đối, chiếm đa số, cho rằng tác giả và nhà xuất bản cho ra đời cuốn sách không phải với thiện chí về một người đã đem lại vinh dự và niềm tự hào cho Ba Lan suốt mấy chục năm nay. Những người bảo vệ cuốn sách thì lý luận rằng Kapuściński suy cho cùng cũng chỉ là một con người, tác phẩm hiện đại có quyền chỉ ra cả những gì là phần con người thực của ông. Cuộc tranh luận xung quanh cuốn sách, xung quanh con người R. Kapuściński có thể còn dài và không thiếu sự gay gắt. Là người vừa được coi là bạn vong niên của R. Kapuściński vừa là dịch giả ít nhiều dịch tác của ông ra tiếng Việt, Nguyễn Chí Thuật vừa gửi đến „Quê Việt” bài viết của mình với mong muốn độc giả Việt Nam tại Ba Lan hiểu rõ phần nào về nhà văn Ba Lan từ mấy chục năm nay được đánh giá rất cao trên văn đàn thế giới đồng thời khẳng định những giá trị bất di bất dịch về văn chương cũng như tư cách con người của R. Kapuściński. Bài viết này đã đăng ở tạp chí Văn học Nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam.
Tháng 10 năm 1987, tôi trở lại Ba Lan sau 10 năm kể từ ngày tốt nghiệp đại học và về nước làm giảng viên Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Cảnh cũ, người xưa, cái gì cũng khiến tôi bồi hồi, xúc động. Nhớ lại giây phút chia tay với bạn bè 10 năm trước đó, không dám tin có ngày trở lại, không dám hẹn hò điều gì chắc chắn. Người đầu tiên tôi gặp là chị Ela, đồng nghiệp của tôi, cũng là một phụ nữ Ba Lan có nhiều nét rất Ba Lan mà tôi vừa yêu quí vừa kính trọng. Chị Ela đã có 5 năm ở Hà Nội trên cương vị chuyên gia tiếng Ba Lan được cử từ Trung tâm tiếng Ba Lan cho người nước ngoài thuộc Đại học Tổng hợp Lodz sang làm việc tại Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Chúng tôi thân nhau vì nhiều lý do, song cái gắn bó chúng tôi hơn cả có lẽ là tình yêu văn học Ba Lan. Trong cuộc gặp mặt khá tình cờ (vì trước đó tôi không thông báo với chị Ela khả năng tôi sang lại Ba Lan), chị Ela mời tôi đến thăm nhà riêng của chị. Tôi nhận lời ngay và vài ngày sau chúng tôi gặp nhau như đã thỏa thuận. Căn phòng của chị Ela là bằng chứng rõ ràng nhất về việc chị đã có 5 năm công tác tại Việt Nam. Các loại tượng phật, tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái, nón, mũ, dao, kiếm, đồ sứ, đồ gỗ, ảnh chụp ghi lại dấu ấn những người chị đã gặp, những địa danh trên đất Việt Nam chị đã qua. Nhưng chúng tôi không có nhiều thời gian ôn lại những kỷ niệm cũ, vì có một đề tài nóng hổi lập tức trở thành chủ đề chính của hai người bạn lâu ngày mới gặp nhau, đó là Ryszard Kapuscinski.
Gần 10 năm trước ngày tôi sang lại Ba Lan, nhà xuất bản Bạn đọc xuất bản cuốn Hoàng đế của R. Kapuscinski viết về cuộc cách mạng Etiopia. Cuốn sách lập tức trở thành sự kiện lớn trong văn học Ba Lan, thu hút sự chú ý của dư luận bạn đọc và sự quan tâm của giới phê bình bởi nó được viết ra bằng một thể loại tuy không mới nhưng đã được nâng lên tầm cao mới, dưới ngòi bút của một nhà văn đầy tài năng sau khi đã xác định cho mình hướng đi rõ ràng và sau khi đã có những thiên phóng sự được đánh giá rất cao. Chị Ela không chỉ say sưa kể cho tôi nghe về cái hay, cái đẹp, về giá trị đích thực của cuốn sách, mà ngay lập tức tặng tôi một cuốn và khuyền khích tôi nên gặp gỡ, làm quen với tác giả, bởi đây là nhà văn đích thực nhất trong số các nhà văn Ba Lan đích thực. Tất nhiên tôi không phản đối, bởi vì được gặp và làm quen với Kapusciski ở thời điểm đó cũng như càng về sau này là một vinh dự lớn với tôi. Miệng nói tay làm, chị Ela lấy giấy bút ra và chúng tôi cùng viết một lá thư mang mục đích làm quen gửi cho Ryszard Kapuscinski. Thực lòng tôi không tin lắm là vào thời điểm mà cả Ba Lan và nhiều quốc gia đang chú ý đến mình, ông có thể có thời gian và một góc nhỏ tình cảm nào đó dành cho tôi, một bạn đọc bình thường như hàng triệu bạn đọc khác của ông, lại đến từ một đất nước ông chưa bao giờ đặt chân tới.
Nhưng điều tôi không dám tin đã thành sự thật. Ryszard Kapuscinski không chỉ đích thân trả lời bức thư “thấy người sang bắt quàng làm họ” của tôi mà còn mời tôi lên Varsava gặp ông, mở đầu cho mối quan hệ thân thiết, bình đẳng kéo dài cho đến tận ngày ông đột ngột từ giã cõi đời này. Tôi nhớ đó là một ngày đầu hè nắng đẹp năm 1988. Kapuscinski hẹn tôi ở quán cà phê nằm trong Thư viện Đại học Tổng hợp Varsava. Khuôn viên thư viện đẹp đẽ, xinh xắn và được chăm chút như cái vườn nhỏ tại nhà riêng. Tôi đến sớm hơn nên ngồi trên chiếc ghế đá trước thư viện chờ ông. Đúng giờ hẹn, một người dong dỏng cao, da đỏ hồng hào, đầu hói, đôi mắt sáng thông minh, tươi cười tiến về phía tôi với giọng thân tình, hồ hởi: “Chắc tôi không nhầm chứ?” Chúng tôi bắt tay nhau thân thiết, vui mừng như những người bạn lâu ngày gặp lại. Không hề tỏ ra khách khí, ông mời tôi vào quán cà phê và câu chuyện văn chương, sách vở không có phần mào đầu. Do có một ít thời gian đọc tác phẩm của ông và khá nhiều bài viết về ông, những điều tôi nói hình như làm ông xúc động. Tôi để ý thấy có lúc ông nhìn tôi chăm chú và không giấu được lòng mình, ông nói với tôi: “Anh Thuật ạ, với tư cách người cầm bút, tôi dã có chút danh tiếng không chỉ ở Ba Lan mà cả ở nước ngoài, song tôi chưa bao giờ dám nghĩ là sẽ có một người Việt Nam từ đất nước xa xôi, bao năm bị chiến tranh tàn phá, lại đọc sách của tôi và hiểu về tôi kỹ càng đến thế”. Rồi như chợt nhớ ra điều gì, ông nói như thể mình có lỗi: “Tôi đã đi rất nhiều nơi trên thế giới, làm việc nhiều năm ở các nước thuộc Thế giới thứ Ba, song lại chưa một lần đến Việt Nam. Mới đầu do sự phân công, sau do bận nhiều việc quá. Rất may là cơ hội vẫn còn”. Tôi nhẩm tính tuổi ông, thấy ông chưa đến 60, nên chẳng nghi ngờ về điều ông nói.
Sau khi xuất bản cuốn Hoàng đế, danh tiếng Kapuscinski nổi lên như cồn. Nhà hát hoàng gia Anh chuyển thể thành kịch bản, dàn dựng và công diễn Hoàng đế tại Luân Đôn, thu hút sự chú ý của dư luận cả châu Âu. Thư viện sách New York bầu chọn Hoàng đế vào danh sách 100 cuốn sách hay nhất thế kỷ. Tại Ba Lan quê hương mình, Kapuscinski trở thành nhà văn có vị trí nổi bật. Người ta nói nhiều, viết nhiều về ông với tư cách nhà văn góp phần làm rạng danh văn học Ba Lan trên văn đàn thế giới, với danh nghĩa bậc thầy của một thể loại vừa cũ vừa mới là phóng sự văn học. Hàng loạt các đêm tác giả được tổ chức tại rất nhiều thành phố lớn nhỏ trên đất nước Ba Lan. Nhiều bộ phim tài liệu, phóng sự về Kapuscinski cũng được chiếu ra mắt. Trong các hoạt động quan trọng liên quan đến ông, tôi đều được mời với tư cách người quen của tác giả. Những dịp đó, mặc dù luôn bận rộn, ông vẫn dành riêng ít phút cho tôi. Có khi chỉ là trao cái nhìn, nụ cười, vài câu xã giao, nhưng là chủ ý thể hiện cho những người khác thấy tôi là vị khách đặc biệt của ông. Tôi thật sự cảm động và tự hào trước cách xử sự văn hóa rất đặc trưng ấy ở con người Ryszard Kapuscinski.
Sau khi bảo vệ xong luận án phó tiến sĩ (bây giờ gọi là tiến sĩ), tôi trở lại công tác tại trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, thấy tâm hồn mình giàu có hơn bởi đã được gặp gỡ, làm quen với một con người thật sự tài năng, một con người không chỉ được đánh giá cao nhờ những cuốn sách đã viết ra mà còn bởi tầm cao đạo đức toát ra từ chính con người đó.
Mặc dù trong lòng ấp ủ bao dự định về việc dịch tác phẩm của ông ra tiếng Việt, song vì những ly do khách quan, chủ quan khác nhau, tôi chỉ in trên báo Văn hóa được mấy trang trích từ cuốn Lapidarium, một hình thức ghi chép do chính Kapuscinski sáng tạo ra và nâng lên tầng cao mới bằng việc đem lại cho nó giá trị văn học đích thực. Cuối năm 1996, tôi trở lại Ba Lan trong một kỳ thực tập giảng dạy. Đầu năm 1997, với tờ báo Văn hóa có phần trích dịch Lapidarium trong tay, tôi „kiếm cớ” gặp ông. Điều khiến tôi cảm động là ông vẫn nhớ tôi, nhớ rất rõ những gì chúng tôi đã nói với nhau trong cuộc gặp tại quán cà phê ở Thư viện Đại học Tổng hợp Varsava. Ông vui mừng đến hồn nhiên khi tôi cho ông xem tờ báo tiếng Việt có in trích dịch tác phẩm của ông và cảm ơn tôi về việc làm mà ông cho là có ý nghĩa rất lớn lao đối với một nhà văn. Ông cư xử với tôi thân tình đến nỗi sau lần tôi có mặt tại „”Đêm giao lưu với Kapuscinski” ở thành phố Lodz, một nhà báo trẻ của Ba Lan đã tìm đến ký túc xá tôi ở để phỏng vấn về „quá trình đến với Kapuscinski” của tôi. Bài phỏng vấn đã được đăng ngay sau đó. Lần đầu tiên trong đời tôi trở thành nhân vật chính của một sự kiện. Càng ngày tôi càng hiểu ra một điều rằng Kapuscinski là nhà văn có vị trí đặc biệt trong văn học nước mình và trên thế giới, đến mức bản thân sự quen biết ông đã là một vinh dự lớn. Tôi không thuộc loại „thấy người sang bắt quàng làm họ”, song những tình cảm ông dành cho tôi đã khiến tôi không ngần ngại tự nhận mình là bạn của ông. Những năm sau này, khi công tác ở Đại sứ quán Ba Lan tại hà Nôi, mỗi lần có dịp tiếp xúc với người Ba Lan, tôi không quên „khoe khéo” mình là người quen của Kapuscinski. Và trong mọi trường hợp, điểm chung của tất cả mọi người là lấy làm ngạc nhiên và chúc mừng tôi có được may mắn đó.
Năm tháng trôi đi, quan hệ giữa tôi với Kapuscinski không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc hay nhà văn và dịch giả. Chẳng biết từ lúc nào, nó đã trở nên thân tình, vượt qua ranh giới một sự quen biết, xã giao bình thường. Tôi nhớ có lần tôi viết thư cho ông và nóng lòng chờ thư trả lời. Mấy tuần sau, tôi nhận được thư từ Varsava, nhưng người gửi không phải là ông mà là vợ ông. Tôi vừa ngạc nhiên vừa lo lắng mở thư xem. Thì ra thư tôi đến Ba Lan khi ông đi nước ngoài, bà Alicja, vợ ông, sợ tôi phải chờ lâu nên đã chủ động thay mặt chồng viết thư trả lời. Việc làm đó khiến tôi cảm phục và càng tự cho mình được quyền coi ông bà là những người thân. Cũng trong thời gian làm việc tại Sứ quán Ba Lan, tôi đã nhiều lần nhận được sách ông bà gửi tặng qua bưu điện hoặc qua những người sang Việt Nam công tác. Vì vậy trên giá sách của tôi có gần như đầy đủ những cuốn sách ông đã in ở Ba Lan, với lời đề tặng bằng nét chữ phóng khoáng có lẽ chỉ mình tôi đọc được.
Tháng 9 năm 2005, trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội cử tôi sang Ba Lan giảng dạy tại Đại học Tổng hợp mang tên Adam Mickiewicz ở Poznan. Người đầu tiên tôi nghĩ đến là Kapuscinski. Nhưng tôi ngần ngại về chuyện viết thư liên hệ vì tôi biết rất rõ rằng nhà văn Ba Lan mà tôi vô cùng ngưỡng mộ và kính trọng này đã là tác giả của hàng chục cuốn sách xuất bản tại nước mình và được dịch ra mấy chục thứ tiếng trên khắp thế giới, mấy năm liên tục được đề cử nhận giải Nobel văn học, rằng tờ báo lớn nhất ở Ba Lan từ mấy năm nay đã lập một trang web riêng trên mạng về ông, đời sống văn học trên quê hương Sôpanh không thể thiếu các tác phẩm của ông. Nhưng rồi mấy ngày sau, tôi vẫn „liều mạng” viết thư cho ông và gần như ngay lập tức nhận được thư trả lời, trong đó ông cảm ơn tôi đã viết bài giới thiệu về ông và trích dịch tác phẩm của ông ra tiếng Việt. Cuối thư ông không quên nhấn mạnh: bất cứ khi nào tôi lên Varsava, ông cũng mở rộng cửa đón tôi tại nhà riêng. Dưới đó là địa chỉ và số điện thoại. Tôi hiểu đó là một đặc ân ông dành cho tôi, bởi vì một nhà văn được cả thế giới biết đến và kính trọng như ông, mời ai đó đến nhà chơi là điều phải cân nhắc kỹ càng.
Tôi vượt qua chặng đường hơn ba trăm kilomét, từ Poznan lên Varsava gặp ông. Nhưng đúng ngày hôm đó lại có một đoàn làm phim từ Đức sang để làm một phóng sự về ông. Vì vậy ông xin số điện thoại di động của tôi và thỏa thuận với tôi là khi nào đoàn làm phim Đức kết thúc công việc, ông sẽ lập tức thông báo và ngồi nhà chờ tôi. Mọi chuyện diễn ra đúng như vậy, chỉ có điều là đoàn làm phim kết thúc công việc khá muộn, nên khi tôi đến thăm ông thì đã chín giờ tối. Hôm đó là ngày 22 tháng 1 năm 2006. Lần đầu tiên tôi đến nhà riêng của ông. Ông ra tận cửa đón tôi. Quà tôi mang đến cho ông là mấy bài báo tiếng Việt tôi viết về ông. Ông nhận những thứ tôi trao, ngắm nghía hồi lâu và tỏ ra xúc động. Ông nói với tôi rằng ông trân trọng tất cả những gì mọi người viết về mình, bất kể tác giả của những bài viết đó là người nước nào.
Đến thăm ông, tôi lạc vào một thế giới sách xếp tầng tầng lớp lớp, ngồn ngộn, chật kín diện tích cả một tầng nhà rộng. Bàn làm việc của ông không chỉ là một cái mà là mấy cái rất rộng, xếp nối tiếp nhau. Tôi nhớ lại những gì mọi người đã viết về phong cách làm việc của ông. Một trong những nguyên tắc của phong cách ấy là muốn viết được một câu của mình phải đọc vài ngàn câu của người khác. Cho nên đã có trường hợp trước khi viết một cuốn sách, ông đã đọc mấy ngàn cuón sách đông tây kim cổ có liên quan đến đề tài định viết. Những chiếc bàn to, rộng, chắc chắn trong phòng làm việc của ông phục vụ cho mục đích ấy. Tôi để ý thấy trong phòng làm việc của ông không có máy vi tính, không có điện thoại. Ông viết tay hoàn toàn. Mỗi khi có điện thoại gọi đến, bà Alicja vợ ông nhấc máy và xác định tầm quan trọng để quyết định chuyển máy cho ông hay không.
Vì biết rõ là mỗi lần đến thăm ông là một lần khó, tôi tranh thủ tận hưởng may mắn của mình là được lạc vào thế giới riêng của ông và chuyện trò với ông. Kapuscinski tự tay đun nước bằng ấm điện, pha trà mời tôi. Ông hỏi tôi khá nhiều chuyện, đề tài nào ông cũng quan tâm đến từng chi tiết, chuyện gì tôi kể cũng khiến ông thích thú. Nhưng tôi để ý thấy ông không ngồi yên được lâu mà hay xoay người trên ghế, một hai lần đứng dậy đi lại quanh chỗ đang ngồi. Sợ tôi hiểu lầm là ông có ý đuổi khéo khách, ông nói với tôi rằng cách đây không lâu ông vừa trả qua một ca phẫu thuật nên phải đi lại cho đỡ mỏi.
Những người đã từng có may mắn tiếp xúc với Kapuscinski đều giữ mãi ấn tượng tốt đẹp về sự lịch lãm, tế nhị, thái độ trân trọng người khác, đặc biệt là những người thuộc những nền văn hóa khác, không phải lúc nào cũng gần gũi với văn hóa Ba Lan. Nói đến Kapuscinski, mọi người hay nhắc đến biệt tài xóa nhòa khoảng cách giữa ông và những người ông mới quen. Với họ, ông cởi mở như một đứa trẻ. Ông ham hiểu biết đến mức không bao giờ giấu giếm sự tò mò của mình, cho nên ai tiếp xúc với ông cũng ngay lập tức cảm thấy mình trở nên quan trọng. Không ai có thể nghĩ rằng một phóng viên chiến tranh dày dặn như ông đôi khi lại ngây thơ như một cậu bé mới lớn. Nhưng chính vì sự ngây thơ đó mà ông hòa nhập với thế giới rất nhanh và hòa nhập hết mình. Những cuốn sách của Kapuscinski đạt tới sự hấp dẫn cao độ, được mọi người yêu mến và tìm đọc chính nhờ tính cách đáng quý ở con người ông.
Những người từng gặp Kapuscinski còn nhận thấy ở ông một đặc tính nữa không phải ai cũng có là ông không bao giờ nói xấu ai. Đối với những người xung quanh, ông cố gắng dành cho những từ ngữ ấm áp đến mức tối đa có thể. Ông đã từng giải thích đều này trong câu chuyện tâm tình với bạn mình: „Xung quanh chúng ta đang tồn tại biết bao những chuyện đểu giả, xấu xa, cho nên chẳng có lý gì ta „sản xuất” bổ sung những thứ tiêu cực đó”. Ông luôn chủ động gọi điện thoại cảm ơn trước một cử chỉ thân thiện dù nhỏ nhất mà ai đó dành cho ông, bất kể người có cử chỉ đó già trẻ ra sao, đang thuộc đẳng cấp nào trong nghề nghiệp của mình. Ngược lại ông cũng không ngần ngại tìm số điện thoại và gọi điện chúc mừng một phóng viên trẻ về một bài báo thành công.
Tiếp xúc với Kapuscinski, tôi thấm thía sâu sắc một điều: ông yêu cái thế giới chúng ta đang sống, yêu mọi người ông gặp và cố gắng hiểu từng người đến mức tối đa. Ông hiểu từng con người cụ thể mà ông gặp tại nhà mình cũng như gặp cách nhà ông nửa vòng trái đất. Ông hiểu và trân trọng người khác, cho nên người khác tin tưởng ông.
Khi chị Ela bạn tôi gợi ý tôi viết thư thiết lập quan hệ lâu dài với Kapuscinski, tôi nghĩ đơn giản: có cơ hội để làm quen với một nhà văn tầm cỡ như vậy, dại gì không tận dụng. Sau này tôi không thể ngờ rằng mối quan hệ quen biết mỗi ngày một thân thiết ấy đã làm thay đổi một phần cuộc đời tôi. Điều đầu tiên tôi khiến cảm phục là sự yên ấm trong gia đình ông. Các nhà văn, nhà thơ tầm cỡ thường „lắm tài nhiều tật”, gặp không ít trục trặc trong chuyện riêng tư. Nhưng với Kapuscinski, làm tròn bổn phận của một người chồng, người cha trong gia đình với thực hiện trách nhiệm công dân với tư cách một nhà văn lớn luôn được đặt trong sự hài hòa, không thể tách rời nhau. Chuyện tình của ông bà được mọi người kể lại như tiểu thuyết. Năm 1951, Ryszard Kapuscinski đang học năm thứ nhất khoa Sử đại học tổng hợp Varsava. Một lần ông tình cờ đứng trước mặt một nhóm bạn gái cùng khoa và nhìn thấy cô gái duy nhất trong nhóm đang hút thuốc. Ông nhìn cô này, lắc đầu tỏ ý không đồng tình. Cô gái có tên là Alicja đó lập tức vứt mẩu thuốc đang hút đi, và đó cũng là điếu thuốc lá cuối cùng trong cuộc đời cô. Sau đó không lâu hai người làm lễ cưới, rồi con gái đầu lòng của họ, Zofia, chào đời. Nhưng cô Alicja đã không theo học ngành sử đến cùng. Sau khi bà mẹ chòng mất vì xuất huyết não, theo lời khuyên và nguyện vọng của Ryszard, cô chuyển sang học ngành y, trở thành tiến sĩ y khoa, cùng đồng nghiệp ở Bệnh viện trẻ em Varsava có nhiều công trình nghiên cứu khoa học giá trị công bố ở trong và ngoài nước. Song với mong muốn hy sinh cho sự nghiệp của chồng và giúp đỡ con gái và cháu ngoại ở Canađa thiết thực hơn, bà đã xin về hưu sớm, trở thành thư ký đắc lực của chồng. Bà thích sống thầm lặng, tránh xuất đầu lộ diện ngay cả khi ông nhận những giải thưởng có giá trị hay nhận bằng viện sĩ danh dự tại những trường đại học danh tiếng trên thế giới.
Với Kapuscinski, gia đình quả là chỗ dựa, là hậu phương đáng tin cậy, là yếu tố quan trọng giúp ông tiến những bước vững chắc đến đỉnh vinh quang. Ông thường xuyên đi nước ngoài, sống xa vợ xa con, song năm tháng xa cách không những không thể đe dọa hanh phúc gia đình ông, ngược lại, đó là khoảng thời gian thử thách lòng chung thủy, ngày sum họp thôi thúc ông làm việc hiệu quả hơn.
Được gần gũi Kapuscinski, với tư cách một người cầm bút nghiệp dư, tôi có một bậc thầy, một tấm gương sáng để học cách làm việc. Tôi rất tâm đắc với những lời ông kể trực tiếp xung quanh chuyện bếp núc của người viết văn cũng như những gì ông viết về đề tài này đây đó trong các cuốn sách của ông tôi từng đọc. Tôi nhớ nhất chi tiết là khi viết, ông đọc rất nhiều. Ông đọc để viết. Ông đọc một lượng sách tối đa về đề tài đang viết để xem người ta đã viết những gì xugn quanh vấn đề đó. Ông muốn tìm hiểu xem mình có thể viết điều gì mới mẻ hoặc nói khác những điều người trước đã nói. Ông có một triết lý bất di bất dịch – làm sao có một số lượng sách nhiều nhất trong nhà. Khi viết, ngoài những cuốn sách được tập hợp nhằm phục vụ thiết thực cho đề tài, ông thường đi giữa các giá sách và lấy ra những cuốn tự nhiên lọt vào mắt mình, đọc ngấu nghiến để vừa tăng kiến thức vừa lấy cảm hứng viết. Thể loại văn học mà ông sử dụng là văn học sự kiện. Mà theo ông viết về các sự kiện không có nghĩa là không cần suy ngẫm, ngược lại chỉ trên cơ sở vốn hiểu biết sâu rộng mới có thể chọn lọc sự kiện và cho nó một ý nghĩa tổng hợp. Tôi được biết là Kapuscinski không chỉ có một thư viện lớn tại nhà riêng. Thư viện của ông rải rắc khắp thế giới – Lagos, Mêhicô, Đắcca, Mỹ, Oxford … Mỗi khi đến một nơi nào đó, ông đều bắt đầu bằng việc đến khách sạn và thiết lập tại đó thư viện sách cho riêng mình. Ông mang theo các cuốn sách về đất nước ông đến, các loại từ điển, một số sách của các tác giả Ba Lan nổi tiếng. Khi về, nếu không mang hết, ông gửi lại chỗ ai đó với hy vọng sẽ còn quay trở lại. Sách ở thư viện trong nước, ông phân chia thành ba tầng. Thư viện chính đặt ở phòng làm việc gồm những cuốn thường xuyên dùng đến. Loại thứ hai ít dùng hơn để tầng dưới, còn một loại để ở tầng hầm, gồm những cuốn hầu như không mấy khi cần đến.
Kapuscinski không chấp nhận thứ lao động nghệ thuật dễ dãi. Vì thế hầu như ngày nào ông cũng bắt đầu mọi thứ từ đầu. Ông biết đó là một cực hình, song ông vẫn cố gắng làm. Có những khi sau khi viết xong một trang bản thảo, áo ông ướt đẫm mồ hôi. Ngay cả khi đã là một nhà văn lớn, ông vẫn luôn cảm thấy mình mới cầm bút viết tác phẩm đầu tay. Cuốn sách nào đã xuất bản, ông không coi nó là cuốn sách của mình. Mọi cái lại phải bắt đầu từ điểm xuất phát. Ở ông không có chuyện những gì đã viết giúp ông viết dễ dàng hơn, ngược lại đó chính là gánh nặng.
Cũng như phần lớn các đồng nghiệp của mình, Kapuscinski không sử dụng máy vi tính để viết văn. Ông viết tay hoàn toàn, với lý luận rằng văn xuôi đích thực là thứ không thể viết trên máy tính. Ông cũng có một thói quen „không giống ai” là không bao giờ đọc lại những gì đã viết, bởi ông cho rằng cần tập trung thời gian và công sức cho những cuốn sách tiếp theo. Sẽ là một thói xấu, là sự ích kỷ nếu nhà văn nhớ quá kỹ những đoạn văn đã viết trước đó. Kapuscinski đề cao phong cách làm việc mà tiếng Việt gọi là „kiến tha lâu đầy tổ”. Ông cô gắng viết hàng ngày. Ông cho rằng nếu trong một ngày ông viết được một trang thì ngày hôm đó có thể coi là ngày may mắn. Thường thì ông viết nửa trang hay một phần tư trang. Song cũng có những ngày ông ngồi cắn bút, không viết được chữ nào. Khi làm việc, ông thường tập trung tư tưởng cao đọ. Ông ngắt điện thoại, từ chối nhiều lừi mời đi dự các cuộc gặp mặt trong nước cũng như nước ngoài. Ông nhận được hàng ngàn bức thư yêu cầu giới thiệu, nhận xét, viết lời nói đầu … Cho nên dễ hiểu là có những thời gian dài ông không biết phim ảnh, nhà hát, hòa nhạc là gì. Ông thừa nhận mình là nô lệ cho hoàn cảnh của mình.
Một điều đáng quý nữa ở Kapuscinski mà tôi nguyện noi theo là ông không viết để lấy danh, cầu lợi. Ông xác định rõ ràng: ông viết để chuyển đến mọi người một thông điệp, bởi ông coi nghề nghiệp của mình là một sứ mệnh. Không bao giờ ông nghĩ về nghề nghiệp của mình với tư cách một phương thức kiếm sống. Kapuscinski không phải là người lúc nào cũng chỉ lo chạy theo đồng tiền. Ông quan niệm rằng thế giới chúng ta đang sống là một thế giới rất phức tạp. Các nền văn hóa và các xã hội khác nhau xuất hiện, và cùng với chúng là sự căng thẳng, xung đột, chiến tranh tôn giáo, chiến tranh sắc tộc, cho nên những người có điều kiện đi đó đi đây có nhiệm vụ chỉ ra một thực tế rằng những con người khác mình cũng có những tình cảm và nhu cầu giống mình, rằng cần phải hiểu họ, làm quen với họ, và khi đã làm quen, đã hiểu được họ rồi thì cần phải viết về họ, giúp họ giải thích để nhiều người cùng hiểu rõ.
Kapuscinski quan niệm về công danh sự nghiệp cũng rất đơn giản. Ông thừa nhận mình là người thành danh, song tiếng tăm chỉ có tác dụng để ông có được những thuận lợi hơn trong việc quảng bá những giá trị, những ý tưởng, những suy nghĩ mà ông muốn chuyển tới người đọc một cách nhanh chóng nhất. Đối với ông, giá trị lớn nhất của danh tiếng là nó đóng góp thiết thực vào việc người thành danh dễ dàng chia sẻ với thế giới những gì mình coi là quan trọng. Những năm gần đây, Kapuscinski luôn nằm trong danh sách các nhà văn trong danh sách cuối cùng chốt lại để hội đồng giải thưởng Nobel văn học đưa ra bỏ phiếu lần cuối cùng. Nhưng rồi cho tới khi ông qua đời, vinh dự lớn lao đó đã không đến với ông. Có lần, trong câu chuyện thân tình, tôi đã hỏi ông về giải Nobel văn học. Ông cười, nói nửa đùa nửa thật: „Nhà văn nào chẳng mơ ước được nhận Nobel văn học, song đối với tôi, đó không phải mong ước lớn nhất. Nobel văn học, về một ý nghĩa nào đó, nếu không cẩn thận, nó là một kiểu „nụ hôn thần chết”. Thực tế đã chỉ ra rằng không ít các nhà văn, nhà thơ, sau khi nhận giải, sự nghiệp sáng tác cũng kết thúc luôn. Các vị không có thowif gian sáng tác, một phần vì còn mải say sưa với hào quang tỏa ra từ giải thưởng, một phần vì phải tập trung mọi thời gian công sức cho các cuộc gặp gỡ, nói chuyện, trả lời phỏng vấn …
Tôi không bao giờ dám so sánh mình với Kapuscinski, song những chi tiết giống nhau một cách tình cờ trong cuộc đời một nhà văn lớn và trong cuộc đời một người viết văn, làm báo nghiệp dư như tôi vẫn khiến tôi vô cùng thích thú. Chẳng hạn kỷ niệm đẹp về bạn đọc. Kapuscinski đã kể rằng có lần nhà văn nhận được thư của một cô gái trẻ đang thất vọng, muốn cầu cứu ông giúp đỡ. Chả là chàng trai mà cô gái mới quen và đem lòng yêu mến trong cuộc hẹn hò đầu tiên đã hỏi cô xem cô đã đọc cuốn sách nào của Kapuscinski chưa. Cô hồn nhiên trả lời là không chỉ chưa đọc mà thậm chí còn không biết Kapuscinski là ai. Nghe nói vậy chàng trai lập tức cắt đứt quan hệ với cô với lý do là cô quá ngôc nghếch, chàng không có gì để nói chuyện. Cô gái năm đó với mười sáu hay mười bảy gì đó. Cô rất muốn nhà văn giúp đỡ nhằm cứu vãn tình cảm đã mất. Tất nhiên Kapuscinski không từ chối. Ông gửi cho cô gái một trong những cuốn sách của mình, kèm theo bức thư với những lời lẽ ấm áp và một hy vọng rằng điều tốt đẹp nhất sẽ đến với cuộc đời cô. Còn tôi, cách đây khoảng 10 năm, sau khi tôi đăng bài viết của mình trên Tri Thức Trẻ với nhan đề „Lạc quan, bi quan”, tôi nhận được thư của một bạn đọc trẻ tuổi đang trong thời gian thi hành án tại một trại cải tạo trên Sơn La. Em tâm sự với tôi là trong những năm tháng vừa qua, đã có những thời điểm em cảm thấy chán chường, không muốn sống. Nhưng sau khi đọc bài báo của tôi, em nghĩ lại, thấy cả cuộc đời đang ở phía trước, trong em trào dâng nghị lực sống, mong muốn sống có ích cho đời hơn. Bạn đọc trẻ có hoàn cảnh éo le ấy đã cảm ơn tôi về bài báo đã giúp em xác định lại hướng đi của đời mình, hứa với tôi sẽ cố gắng cải tạo để sớm trở lại hòa nhập cộng đồng. Cũng như Kapuscinski, chưa bao giờ trong cuộc đời cầm bút của mình, tôi cảm thấy việc cầm bút của mình có ý nghĩa lớn lao đến vậy. Đó cũng chính là thời điểm tôi thấy mình là người hạnh phúc nhất trần đời.
Tôi có người bạn Ba Lan đã nhiều năm là nhà báo. Chúng tôi học cùng đại học với nhau. Biết tôi là người quen của Kapuscinski, đêm 23 tháng 1 năm 2007, khi các phương tiện thông tin đại chúng ở Ba Lan chưa công bố chính thức tin nhà văn qua đời, anh đã gọi điện cho tôi thông báo tin sét đánh này. Trước đó tôi được biết Kapuscinski phải vào bệnh viện, nhưng khi nghe điều bạn tôi nói qua điện thoại, tôi vẫn sững sờ một lúc lâu, không tin đó là sự thật. Hôm nay, đã tròn một năm ngày Kapuscinski qua đời, mặc dù đuợc phép coi mình là người thân của gia đình nhà văn, tôi đã không lên Varsava trong ngày tiễn ông về nơi an nghỉ tại nghĩa trang thủ đô, không gửi lời chia buồn chính thức với bà Alicja vợ ông. Đơn giản là tôi không bao giờ chấp nhận sự thật rằng ông đã đi xa, mà ngược lại, tôi luôn nghĩ ông vẫn còn đâu đấy quanh tôi, cạnh tôi. Mấy tháng sau, khi mộ ông vừa xanh cỏ, tôi một mình vượt qua đoạn đường mấy trăm cây số, lên Varsava, nhờ một người quen làm ở nhà xuất bản Znak, tìm đến khu mộ ông, ngồi lặng người hồi lâu ở đó, nghĩ về ông như nghĩ về một người thân, một người ruột thịt.
Có lẽ ông giáo sư người Mỹ Mark Danner nói đúng, sau khi Kapuscinski đi xa, thế giới chúng ta trở nên nghèo nàn hơn, ít sự thông thái hơn. Tôi là một trong những người cảm nhận rõ ràng điều đó nhất.
Poznan, tháng 1 năm 2008
Nguyễn Chí Thuật