Phần II. Thăm chùa Thiên Mụ
(Ảnh: Vợ chồng tác giả trước tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ)
Chùa Thiên Mụ là điểm du lịch không nên thiếu trong chương trình tham quan của khách đến cố đô. Danh tiếng chùa đã được nghe nhiều trong thơ ca, văn học, báo chí, giờ tôi mới có dịp viếng thăm.
Thiên mụ nằm ở bờ bắc sông Hương. Từ trung tâm thành phố Huế chúng tôi bơi thuyền ngược dòng khoảng gần nửa tiếng đồng hồ. Xa xa đã thấy tháp Phước Duyên– biểu tượng của Thiên Mụ - giữa đồi cây xanh vươn mình trong nắng sớm. Thiên Mụ được xây dựng trên đồi Hà Khê ngay bên bờ sông. Tương truyền ngày xưa Nguyễn Hoàng từ Bắc Hà vào trấn thủ Thuận Hoá, đến đây thấy quả đồi có dòng nước trong uốn quanh, dáng như con rồng quay đầu nhìn lại thì lấy làm lạ. Lại còn nghe dân chúng kể, thỉnh thoảng xuất hiện người đàn bà áo đỏ quần xanh nói rằng chỗ này sẽ có một vị chân chúa đến đây xây chùa để chấn hưng những long mạch phương Nam. „Người đàn bà ấy phải là người trời, còn vị chân chúa chính là điềm ứng vào ta”! – Nguyễn Hoàng cả mừng liền ra lệnh khởi công xây chùa, đặt tên là Thiên Mụ, nghĩa là „Người đàn bà nhà trời”. Chùa được khởi công xây năm tân sửu (1601), vậy là một trong những chùa thờ Phật cổ nhất Đàng Trong.
Thiên Mụ không giống với bất cứ chùa nào mà tôi từng thấy. Đây không phải là một ngôi chùa mà là một quần thể các công trình kiến chúc, tuy không vĩ đại nhưng tuyệt đẹp.
Xuống thuyền phải leo nhiều bậc thang giữa hai cột cao vút mới đến chân tháp Phước Duyên. Tháp tương đối cao, gồm 7 tầng. Hôm chúng tôi đến thì đóng cửa không vào được, chỉ nghe cô hướng dẫn du lịch nói trong có cầu thang xoáy trôn ốc lên đến tận đỉnh, mỗi tầng tháp đều đặt tượng thờ phật. Phía trước tháp có gò đất thấp phẳng phiu, cỏ mọc xanh, xung quanh viền gạch. Đấy là dấu vết của đình Hương Nguyện ngày xưa. Qua mấy thế kỷ tồn tại, Thiên Mụ từng bị thiên tai huỷ hoại và được trùng tu nhiều lần, nhưng kết quả thì quy mô vẫn không bằng ngày xưa. Hai bên tháp Phước Duyên là hai nhà tứ giác đặt bia lớn. Vào trong nữa là hai nhà lục giác, một đặt bia lớn, một đặt chuông Đại Hồng. Chuông Đại Hồng cũng thuộc loại chuông nổi tiếng, nặng hơn 2 tấn, được đúc vào đầu thế kỷ 18, thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Trên đỉnh đồi là quần thể chùa gồm một loạt công trình như điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm…, với những tác phẩm nghệ thuật giá trị như tượng Hộ Pháp, tượng Di Lặc, tượng Tam Thế, bia đá, chuông đồng, trống gỗ mít… Ngoài ra còn có mộ tháp khói hương ghi ngút của hoà thượng Thích Đôn Hậu, người từng đối đầu với cả hai chế độ. Dạo quanh đây, tôi cứ ngỡ như mình đương ở vườn ngự uyển cổ xưa. Lối đi rộng rãi lát bằng gạch bát tràng, thảm cỏ mịn cắt tỉa phẳng phiu, xung quanh thông, trúc xanh rì, những cây hoa đại được trồng ở đây trồng rất nhiều. Cô hướng dẫn viên bảo trong này gọi là hoa Chăm Pa. Lúc xuống đồi, chúng tôi lại dừng chân cạnh tháp Phước Duyên ngắm cảnh. Sông Hương rộng mênh mông, nước sông xanh biếc, thuyền bè tới lui, bên kia bờ nhà cửa thấp thoáng dưới những lùm cây, xa xa núi đồi mờ ảo dưới nền trời xanh ngắt. Tiếng đồn về Thiên Mụ quả không ngoa chút nào.
- Giá được trèo lên tháp Phước Duyên mà ngắm cảnh thì thích nhỉ. – Tôi ước ao và hỏi cô hướng dẫn viên: – Nhưng mà tại sao tháp lại đóng cửa?
- Trước đây – cô giải thích – trên đỉnh tháp có tượng Phật Thích Ca bằng vàng thật, nhưng tất nhiên là bị ăn cắp mất. Vì thế bây giờ người ta mới đóng cửa, không cho ai lên cả.
- Nhưng tượng quý bị ăn cắp rồi thì còn đóng cửa làm gì? – Vợ tôi thắc mắc.
Cô hướng dẫn viên lúng búng chẳng biết nói sao. Tôi đành phải trả lời thay:
- Lạ lùng gì chuyện ấy? Không phải vô cớ mà phương ngôn nước anh có câu: „Mất bò mới lo làm chuồng”!
(Còn nữa, đoạn sau mời độc giả cùng chúng tôi đến thăm lăng Tự Đức).
Trương Đình Toe