Phần III. Thăm lăng Tự Đức
![]() |
| Vợ chồng tác giả cạnh Lưu Khiêm Hồ, lăng Tự Đức |
Lăng vua Tự Đức là một trong những tác phẩm kiến chúc đẹp nhất thời Nguyễn, điểm không nên thiếu được trong chương trình tham quan của du khách đến cố đô. Đây là cả một khu vực rộng hơn chục ha, xây cất chẳng khác gì một hoàng thành thứ hai.
Lăng được vua Tự Đức xây cho mình lúc còn sống và được kiến thiết trong vòng 9 năm, xây xong ngài còn ở đấy 10 năm nữa mới mất. Lúc đầu vua đặt tên là Vạn Niên Cơ, nghĩa là trường tồn mãi mãi. Nhưng năm 1866, hai năm kể từ ngày khởi công, nổ ra cuộc khởi nghĩa Chầy Vôi. Quân lính và và dân phu xây lăng cực khổ, đói khát, làm lụng quá sức, bị đánh đập dã man không sao chịu được, mới lấy chầy giã vôi làm vũ khí, theo anh em Đoàn Hữu Trưng kéo về kinh thành Huế làm loạn, sử Nguyễn gọi là giặc Chầy Vôi. Dẹp được loạn Chầy Vôi rồi, vua có ý hối hận, đổi Vạn Niên Cơ thành Khiêm Lăng, cho nên tên mấy chục công trình kiến thiết ở đây đều mang chữ Khiêm cả. Vậy cổng vào được đặt là cửa Vụ Khiêm, lăng có Điện Hoà Khiêm là nơi vua làm việc, có Khiêm Cung Môn là nơi vua nghỉ, Có Trì Khiêm Viện, Y Khiêm Viện là chỗ cho các cung phi, Có Pháp Khiêm Vu, Lễ Khiêm Vu là nơi của các quan văn võ theo hầu, lại có Tùng Khiêm Viện, Dung Khiêm Viện làm vười nuôi nai, có Lưu Khiêm Hồ để thả sen, trên hồ có đảo Tịnh Khiêm để trồng hoa, nuôi thú hiếm, có Xung Khiêm Tạ, Dũ Khiêm Tạ để ngắm hoa, đọc sách, làm thơ…
Tự đức là người rất giỏi thơ. Nay ở Khiêm Cung Môn còn treo mấy chục bức tranh sơn thuỷ minh hoạ thơ vua. Nguyên xưa kia ngài hay vịnh thơ tứ tuyệt tả cảnh, gửi sang Trung Quốc thuê vẽ theo ý thơ, mang tranh về treo ở đây. Ngài còn là một ông vua rất đức độ. Trong đình bia có tấm bia đá nặng 20 tấn, trên khắc bài Khiêm Cung Ký dài 4 935 chữ do chính ngài soạn. Thói thường công đức của vua là do con cái viết lên sau khi vua qua đời, và bao giờ cũng được thần thánh hoá. Nhưng Tự Đức có đến 103 vợ mà không có con, nên tự viết Khiêm Cung Ký, trong đó vua không chỉ kể công mà còn nói đến cả những lỗi lầm. Vậy ngài chỉ coi mình là một người bình thường mà thôi. Làm ông vua một nước mà chỉ coi mình là người bình thường, âu cũng là việc trên đời xưa nay hiếm. Tiếc thay người có đức độ, giỏi văn thơ chưa hẳn đã có tài an bang định quốc. Thăm Khiêm Cung Môn, tôi còn thấy treo cái cái đèn tượng trưng, tạm gọi là đèn Nguyễn Trường Tộ…
Dưới thời Tự Đức – theo nhận xét của Trần Trọng Kim – „nước nghèo dân khổ, lại phải lúc có nhiều tai biến, người ngoài vào xâm lược, triều đình ngơ ngác không biết xoay sở ra thế nào, lòng người ly tán, phân bè nọ đảng kia giết hại lẫn nhau… Vua thì ở trong cung điện, việc đời không rõ… Các quan lại số người biết thì ít, người không biết thì nhiều. Những người có quyền tước thì nhiều người nhìn không rõ, nghe không thấy, chỉ một niềm giữ thói cũ cho tiện việc mình. Lại có lắm kẻ tự nghĩ rằng mình đã quyền cả ngôi cao thì tất là tài giỏi hơn người, chứ không hiểu rằng cái tài giỏi không phải là nhiều tuổi, sự khôn ngoan không phải là làm quan to hay quan nhỏ. Cái phẩm giá con người ta cốt ở tư tưởng, học thức, chứ không phải ở tiền hay là ở quyền tước. Trong lúc bên ngoài người ta tiến thì mình lùi, ai nói đến sự gì mới thì bác đi”.
Trong số những sĩ phu muốn canh tân cho đất nước thời ấy có ông Nguyễn Trường Tộ kể trên, nay vẫn còn được người đời nhắc đến. Nhưng đọc chính sử hiện nay thì đến chết cũng không hiểu được sự tích cái đèn Nguyễn Trường Tộ, phải nghe thêm truyền thuyết. Thủa nhỏ tôi vẫn thường nghe ông nội kể, ngày xưa Nguyễn Trường Tộ sang Pháp về nói rằng bên ấy có xe không ngựa kéo mà chạy được, có tầu không người chèo chống mà bơi được, và… có cái đèn chổng ngược, gió bão thổi cũng không tắt. Nguyễn Trường Tộ tâu vua là phải canh tân, học hỏi để theo kịp người ta, nếu không sẽ bị mất nước. Tự Đức không nghe, bảo rằng: y thuộc giống khác! „Giống khác” ở đây là vì Nguyễn Trường Tộ theo đạo Công Giáo. Còn triều đình thì ghép ông vào tội khi quân, tức là nói dối vua. Sử sách ngày nay vẫn ca ngợi Nguyễn Trường Tộ (trừ một vài học giả ở hải ngoại). Song dù thế nào mặc lòng, riêng bản thân tôi thì cảm thấy… không phục! Lời nói dẫu phải, nhưng nói với những người không hiểu hoặc cố tình không hiểu, khác nào như viên ngọc quý mà lại đem ra ném xuống biển, có khi còn mang vạ vào thân. Nhưng cuối cùng thì Nguyễn Trường Tộ cũng không bị chặt đầu, chứng tỏ thời ấy vẫn chưa đến nỗi hà khắc cho lắm.
Chúng tôi đương lững thững bước trên lối đi lát bằng gạch Bát Tràng ở Khiêm Lăng - một công trình kiến trúc tuyệt vời bị thời gian huỷ hoại, nhưng tiếc thay chẳng có ai tu sửa. Lưu Khiêm Hồ sen không nở, tường nghiêng thì chống bằng gậy, mái sụt thì lấy những tấm tôn gỉ úp lên, Xung Khiêm Tạ, Dũ Khiêm Tạ đổ đến nơi vẫn không người nhòm ngó… Cô hướng dẫn du lịch giải thích, Khiêm Lăng thuộc sự bảo trợ của UNESKO, mà cơ quan quốc tế này thiếu tiền, vì phải tài trợ nhiều nước khác nữa, nước ta thì lại quá nghèo.
Nhưng thực ra nước Nam ta chưa hẳn đã là quá nghèo. Chỉ có điểu là người mình khôn! Khiêm Lăng thì mặc kệ UNESKO (hay là gạ bán quách cho họ?), có tiền ta đem xây chỗ khác to đẹp hơn, đàng hoàng hơn, chẳng hạn như chùa Bái Đính vô cùng kỳ vĩ ở Ninh Bình.
(Còn nữa. Phần tiếp theo: Chùa Bái Đính)
Trương Đình Toe
