
Grzędy rozjęte miedzą; na każdym przykopie
Stoją jakby na straży w szeregach konopie,
Cyprysy jarzyn; ciche, proste i zielone.
Ich liście i woń służą grzędom za obronę,
Bo przez ich liście nie śmie przecisnąć się źmija,
A ich woń gąsienice i owad zabija.
Dalej maków białawe górują badyle;
Na nich, myślisz, iż rojem usiadły motyle
Trzepiocąc skrzydełkami, na których się mieni
Z rozmaitością tęczy blask drogich kamieni;
Tylą farb żywych, różnych, mak źrenicę mami.
W środku kwiatów, jak pełnia pomiędzy gwiazdami,
Krągły słonecznik licem wielkiem, gorejącem
Od wschodu do zachodu kręci się za słońcem.
Pod płotem wąskie, długie, wypukłe pagórki
Bez drzew, krzewów i kwiatów: ogród na ogórki.
Pięknie wyrosły; liściem wielkim, rozłożystym,
Okryły grzędy jakby kobiercem fałdzistym.
Pośrodku szła dziewczyna w bieliznę ubrana,
W majowej zieloności tonąc po kolana;
Z grząd zniżając się w bruzdy, zdała się nie stąpać,
Ale pływać po liściach, w ich barwie się kąpać.
Słomianym kapeluszem osłoniła głowę,
Od skroni powiewały dwie wstążki różowe
I kilka puklów światłych, rozwitych warkoczy;
Na ręku miała koszyk, w dół spuściła oczy,
Prawą rękę podniosła, niby do chwytania;
Jako dziewczę, gdy rybki w kąpieli ugania
Bawiące się z jej nóżką, tak ona co chwila
Z rękami i koszykiem po owoc się schyla,
Który stopą natrąci lub dostrzeże okiem.
Pan Hrabia, zachwycony tak cudnym widokiem,
Stał cicho. Słysząc tętent towarzyszów w dali,
Ręką dał znak, ażeby wstrzymać konie; stali.
On patrzył z wyciągniętą szyją, jak dziobaty
Żuraw, z dala od stada gdy odprawia czaty
Stojąc na jednej nodze, z czujnymi oczyma
I by nie zasnąć, kamień w drugiej nodze trzyma.
Zbudził Hrabiego szelest na plecach i skroni;
Był to bernardyn, kwestarz Robak, a miał w dłoni
Podniesione do góry węzłowate sznurki:
" Ogórków chcesz Waść? krzyknął, oto masz ogórki.
Wara, Panie, od szkody, na tutejszej grzędzie
Nie dla Waszeci owoc, nic z tego nie będzie".
Potem palcem pogroził, kaptura poprawił
I odszedł; Hrabia jeszcze chwilę w miejscu bawił
Śmiejąc się i klnąc razem tej nagłej przeszkodzie;
Okiem powrócił w ogród; ale już w ogrodzie
Nie było jej; mignęła tylko śród okienka
Jej różowa wstążeczka i biała sukienka.
Widać na grzędach, jaką przeleciała drogą,
Bo liść zielony, w biegu potrącony nogą,
Podnosił się, drżał chwilę, aż się uspokoił,
Jak woda, którą ptaszek skrzydłami rozkroił.
A na miejscu, gdzie stała, tylko porzucony
Koszyk mały z rokity, denkiem wywrócony,
Pogubiwszy owoce, na liściach zawisał
I wśród fali zielonej jeszcze się kołysał.
Po chwili wszędzie było samotnie i głucho;
Hrabia oczy w dom utkwił i natężył ucho,
Zawsze dumał, a strzelcy zawsze nieruchomie
Za nim stali. - Aż w cichym i samotnym domie
Wszczął się naprzód szmer, potem gwar i krzyk wesoły,
Jak w ulu pustym, kiedy weń wlatują pszczoły
Był to znak, że wracali goście z polowania
I krzątała się służba około śniadania.
Jakoż po wszystkich izbach panował ruch wielki,
Roznoszono potrawy, sztućce i butelki;
Mężczyźni, tak jak weszli, w swych zielonych strojach,
Z talerzami, z szklankami chodząc po pokojach,
Jedli, pili lub wsparci na okien uszakach
Rozprawiali o flintach, chartach i szarakach;
Podkomorstwo i Sędzia przy stole; a w kątku
Panny szeptały z sobą; nie było porządku,
Jaki się przy obiadach i wieczerzach chowa.
Była to w staropolskim domie moda nowa;
Przy śniadaniach pan Sędzia, choć nierad, pozwalał
Na taki nieporządek, lecz go nie pochwalał.
Różne też były dla dam i mężczyzn potrawy:
Tu roznoszono tace z całą służbą kawy,
Tace ogromne, w kwiaty ślicznie malowane,
Na nich kurzące wonnie imbryki blaszane
I z porcelany saskiej złote filiżanki,
Przy każdej garnuszeczek mały do śmietanki.
Takiej kawy jak w Polszcze nie ma w żadnym kraju:
W Polszcze, w domu porządnym, z dawnego zwyczaju,
Jest do robienia kawy osobna niewiasta,
Nazywa się kawiarka; ta sprowadza z miasta
Lub z wicin bierze ziarna w najlepszym gatunku,
I zna tajne sposoby gotowania trunku,
Który ma czarność węgla, przejrzystość bursztynu,
Zapach moki i gęstość miodowego płynu.
Wiadomo, czym dla kawy jest dobra śmietana;
Na wsi nie trudno o nię: bo kawiarka z rana,
Przystawiwszy imbryki, odwiedza mleczarnie
I sama lekko świeży nabiału kwiat garnie
Do każdej filiżanki w osobny garnuszek,
Aby każdą z nich ubrać w osobny kożuszek.
Panie starsze już wcześniej wstawszy piły kawę,
Teraz drugą dla siebie zrobiły potrawę
Z gorącego, śmietaną bielonego piwa,
W którym twaróg gruzłami posiekany pływa.
Zaś dla mężczyzn więdliny leżą do wyboru:
Półgęski tłuste, kumpia, skrzydliki ozoru,
Wszystkie wyborne, wszystkie sposobem domowym
Uwędzone w kominie dymem jałowcowym;
W końcu, wniesiono zrazy na ostatnie danie:
Takie bywało w domu Sędziego śniadanie.
Chàng Tadeush (tiếp theo – 22)
Các loài cây phân cách nhau bằng bờ thửa
Dưới rãnh là các khóm trắc bá diệp và đay
Mọc thành hàng làm lá chắn rất dày
Chúng đứng thẳng tắp, xanh rờn, lặng lẽ
Vị lá và mùi hương riêng góp phần bảo vệ
Ngăn loài rắn không thể bò qua đến phá rau màu
Mùi hương còn giết côn trùng và các loại sâu
Còn phía xa kia là hoa mak 1 đỏ
Đàn bướm trắng phủ kín những đoá hoa rực rỡ
Cánh rập rờn với những chấm sáng lung linh
Như cầu vồng khoe ánh hào quang của kim cương
Những làn sóng sắc màu vô cùng sống động
Hoa mak làm con ngươi mắt chìm vào ảo mộng
Và nổi bật giữa muôn hoa như mặt trăng giữa trời sao
Hướng dương với đài hoa tròn luôn khoe sắc màu
Từ sáng đến chiều chỉ quay quanh mặt trời làm dáng.
Ở dưới rào, những luống đất cao, hẹp và dài ngoẵng
Không có cây gì, không cả cỏ và hoa
Nơi chỉ chuyên trồng dưa chuột từ xưa
Dưa đã mọc thật quả là đẹp mắt
Lá lớn phủ đều che kín trên luống đất
Rồi một cô gái trong bộ váy trắng ngần
Bước ngập chìm trong màu xanh tháng Năm
Nàng cúi xuống luống dưa như không phải đang di chuyển
Mà đang bơi giữa lá, đang tắm trong màu xanh kiều diễm
Nàng che đầu bằng chiếc mũ kết từ lá và hoa
Hai dải nơ đỏ từ chỏm mũ bay trong gió phất phơ
Vài tia nắng vờn theo bím tóc
Trên tay là chiếc làn dưa chuột
Mắt nhìn xuống, tay phải giơ cao như định quơ gì
Giống dưới nước xoải chân tay bơi theo chú cá lượn lờ
Cô gái thỉnh thoảng cúi hái một trái dưa ở dưới
Khi chợt nhìn ra hoặc vô tình dưa chạm vào tay trái.
Bá tước ngỡ ngàng trước cảnh sắc tuyệt vời
Ngài đứng im lặng không nói nên lời
Khi nghe tiếng chân người đang đi gần đến đấy
Ngài ra hiệu bằng tay để mọi người dừng lại
Rồi nghển cổ nhìn như con sếu tách khỏi đàn
Vươn mỏ dài ra làm nhiệm vụ canh phòng
Sếu đứng một chân, đôi mắt nhìn chăm chú
Và tránh ngủ gật, bám chặt chân kia vào viên đá.
Có tiếng động nhỏ sau lưng, gần sát thái dương
Bá tước choàng tỉnh khỏi trạng thái mơ màng
Đó là cha dòng Bécna, thầy lạc quyên Robak
Giơ sợi dây thừng trong tay, thầy hét
-“Cũng ưa xơi dưa chuột lắm, hả Ngài?
Nhưng dưa kia là của người ngoài
Hãy đi đi thôi, thật là đáng tiếc
Chẳng có gì ở đây dành cho Ngài hết!”
Rồi ông ta doạ bằng cách dứ dứ ngón tay
Sửa lại mũ trùm đầu và rảo bước đi ngay
Bá tước còn nán lại chỗ này một lúc
Bật cười và rủa thầm trò quấy rầy đột ngột
Nhìn lại vườn cây nhưng không thấy người nào
Cô gái chỉ loé lên cùng dải nơ đỏ và chiếc váy trắng phau
Cô đã lướt qua đường nào trong vườn cây ấy
Vì chòm lá xanh chạm phải chân nàng mới vừa bật dậy
Rung rinh một hồi giờ mới đứng yên
Giống mặt nước gợn lên vì một cánh chim
Nơi nàng đứng lúc nãy chỉ còn chiếc làn nho nhỏ
Đã dỡ hết trái cây, treo trên cành gần đó
Chiếc làn đung đưa giữa sóng lá xanh rờn.
Sau phút giây tất cả đều trở nên lặng lẽ u buồn
Bá tước dán mắt vào ngôi nhà, dỏng tai nghe ngóng
Ngài nghĩ ngợi, trong lúc người hầu đứng sau bất động
Cho đến khi trong căn nhà thầm lặng cô đơn
Bắt đầu vang lên, trước tiên là những giọng nói thì thầm
Sau đó là tiếng ồn ào và âm thanh hét hò vui vẻ
Giống khi cả đàn ong đang bay về tổ
Dấu hiệu tỏ ra khách săn đã về nhà
Và bọn hầu chuẩn bị dọn bữa nhắm đưa ra.
Tất cả các phòng ai nấy đều bận rộn
Người ta bày đồ ăn, thìa dĩa và đồ uống
Đám đàn ông bước vào, y phục màu lá cây
Cầm đĩa thức ăn và cốc rượu trên tay
Đi từ phòng nọ sang phòng kia hăm hở
Hoặc vừa ăn uống vừa đứng tựa bên cửa sổ
Nói về những chuyện lạ, về thỏ rừng, chó săn
Gia đình Điền thổ và Thẩm phán ngồi bên bàn ăn
Các cô gái thầm thì trò chuyện trong một góc
Vào bữa trưa và tối, tại các gia đình quý tộc
Nề nếp trên không hợp phong tục xưa nay
Song ở bữa sáng, Thẩm phán không cấm đoán chuyện này
Mặc dù Ngài không hài lòng khuyến khích.
Có nhiều món khiến các ông các bà yêu thích
Đây là khay đồ uống với tất cả các loại cà phê
Những đĩa lớn vẽ hoa trang trí cầu kỳ
Trên đó, ấm mạ bạc toả mùi thơm hấp dẫn
Và những chiếc tách bằng sứ mạ vàng lấp lánh
Bên mỗi tách có một bình váng sữa đứng riêng
Loại cà phê này không thể có ở đâu ngoài đất Ba Lan!
Ở đó theo phong tục xưa, trong gia đình nề nếp
Có cô gái chuyên pha cà phê riêng biệt
Gọi là cô gái cà phê
Cô ta phải từ thành phố đưa về
Chọn mua hạt cà phê thượng hạng
Trên các con tầu Viciny 2 đậu ngoài bến cảng
Và phải biết bí quyết rang xay chế biến thế nào
Để hạt đen như than đá, trong như hổ phách thẫm màu
Có mùi mô ka và quánh như mật ong đậm đặc
Ai cũng biết, váng sữa tươi hợp với cà phê đặc biệt
Ở làng quê chuyện đó thật giản đơn
Từ sáng sớm, cô gái cà phê, khi đặt ấm lên đun
Đã đi ngay đến nơi vắt sữa bò trong làng xã
Và tự mình hớt nhẹ nhàng những tinh hoa của sữa
Cạnh mỗi ly cà phê là một bình nhỏ xinh xinh
Để váng sữa dành cho khách uống theo sở thích của mình.
Những người đàn bà đứng tuổi quen dậy sớm
Đã dùng xong món cà phê buổi sáng
Giờ đang tự chế biến cho mình món thứ hai
Là một vại bia trắng màu váng sữa được đun sôi
Trong đó phó mát tươi cắt nhỏ thi nhau bơi lặn.
Còn cánh đàn ông tha hồ lựa đồ ăn lạnh
Những đùi ngỗng béo, thịt lợn hun khói nạc nguyên
Đều chế biến tuyệt ngon và là sản phẩm gia đình
Được hun trong lò bằng khói đỗ tùng thơm phức
Món cuối cùng đưa ra là thịt hấp
Ở nhà Thẩm phán đó là bữa sáng thông thường.
________________1Mak: Loại cây có hoa màu đỏ thắm, hạt đen như vừng và thường được rắc trên bánh ngọt. Có người gọi đó là cây thẩu hoặc anh túc (ND).
2Viciny là những con tàu lớn đậu trên sông Niemen, trên đó người dân Litva thường buôn bán hàng hoá với người Phổ, đổi lúa mì lấy các hàng nhập từ các nước thuộc địa.