Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Tháp Nhạn “người” độc hành phong sương

22/07/2011 24 phút đọc CHU MẠNH CƯỜNG (phaply.net)
Anh ơi, có về thăm tháp Nhạn Nhìn sóng triều lên lúc trăng chiều Có ghé sông Ba bờ cát rộng Và nhìn lũ trẻ chạy thả diều…
Tháp Nhạn “người” độc hành phong sương

Anh ơi, có về thăm tháp Nhạn
Nhìn sóng triều lên lúc trăng chiều
Có ghé sông Ba bờ cát rộng
Và nhìn lũ trẻ chạy thả diều…


(Gửi anh xóm chiều- L.M.C).

 

2.Thap nhan nguoi doc hanh phong suong 1 329x410 Tháp Nhạn người độc hành phong sương

Tháp Nhạn - tòa tháp Chăm cổ nằm trên núi Nhạn

Khi nhắc đến thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên, du khách thường nhớ ngay tới tháp Nhạn – tòa tháp Chăm cổ nằm trên núi Nhạn, soi bóng bên bờ bắc sông Đà Rằng và là biểu tượng của Phú Yên. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo, đỉnh cao của nền văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng Chăm – Một trong những đền thờ nữ thần Poh Nagar Mẹ xứ sở, gắn liền với truyền thuyết Mẹ xứ sở giết quỷ dữ, khai thông cửa sông Đà Rằng cho con dân đi lại. Nhớ ơn Mẹ xử sở, vào khoảng thế kỷ 11 – 12, đồng bào Chăm ở lưu vực sông Ba (thượng lưu sông Đà Rằng) đã xây dựng tháp Nhạn, và kể từ đó tòa tháp ngày đêm như một cột mốc, một ngọn hải đăng, một con mắt trên trán thần Parasvara chỉ lối cho tàu thuyền.

Tháp Nhạn cao khoảng 20 mét, hình chóp vuông bằng gạch đỏ, chân ốp sa thạch, mỗi cạnh dài 11 mét, dày 2,4 mét. Tháp gồm bốn tầng thon dần hình chóp  và hướng về phía đông là hướng của ánh sáng, sự sinh sôi theo triết lý Ấn Độ. Mỗi tầng đều có nhiều hàng cột lớn và nhỏ đều đặn và cách nhau bởi các rãnh chạy dọc tạo chiều sâu khiến tháp cao càng cao. Cắt ngang cột là vô vàn những phiến gạch, gờ và riềm nằm ngang tạo chiều rộng bề thế, gân guốc để tháp thêm uy vĩ, hắc hiểm. Hơn thế đế, thân và mái tháp còn có những gờ gạch xây nhô ra bên ngoài đồ sộ. Ở bốn góc giữa các tầng mái có tiểu trụ đầu thuôn nhọn. Trên tuyệt đỉnh đặt một phiến đá tảng hình búp sen và là biểu tượng phồn thực của người Chăm. Trên đỉnh tháp, bốn mặt đều có bốn cửa sổ giả. Cửa chính để vào tháp nằm ở hướng đông, hình vòm cung nhọn giống sinh thực khí linga, tận cùng có tượng đầu quái vật. Tường bên trong tháp được xây thẳng suốt từ móng lên hết chiều cao. Lòng tháp trống không. Tháp được xây bằng gạch nhiều kích cỡ, tựu chung là 40*20*7 centimét, và xếp khít không gắn vữa. Nhiều người cho rằng, khi dựng tháp người Chăm chỉ xếp gạch tươi thành lớp và chất củi đốt, cũng có người cho rằng họ xây bằng gạch đã nung. Suy cho cùng dưới sức nặng các viên gạch đã nén chặt vào nhau thành một khối vững chắc.
Giữa thế kỷ 19, khi xâm lược nước ta đi từ biển vào, thực dân Pháp tưởng nhầm tháp là một pháo đài quân sự nên đã nã đạn làm đỉnh tháp bị sứt đổ. Trong kháng chiến chống Pháp, tháp cũng nhiều lần bị oanh tạc. Năm 1960, chính quyền Ngụy đã cho bít một số chỗ nứt nẻ và gia cố chân tháp bằng xi măng cốt thép, đến nay nhờ công tác tu bổ và sự bảo vệ của nhân dân công trình mới giữ được vẻ đẹp nguyên sơ. Nhà nước đã công nhận tháp Nhạn là công trình di tích văn hóa lịch sử quốc gia. Người dân Phú Yên cũng tự hào cho đây là biểu tượng của tỉnh.

Tháp Nhạn có sức hút ghê gớm. Hơn 1.000 năm tuổi vậy mà tháp vẫn gợi lên bao điều bí ẩn bởi kiểu bố cục, bởi vẻ trầm mặc và tách biệt với cuộc sống. Từng mảng tường, từng phiến gạch như có hồn phách tuy mỏng mảnh, song cứ tầng tầng lớp lớp chồng chất không siêu không vẹo, thậm chí nhiều chỗ gạch đỏ hồng tươi mới như trêu ngươi thời tiết. Mầu gạch Chàm luôn thắm trong hoàng hôn và phảng phất một nỗi buồn không tên. Bao giờ cũng vậy mặt trời đi qua tháp đều chững lại để ánh sáng đọng rất lâu trên tột đỉnh, in hình tháp trên cây cỏ, đất cát và sóng nước. Tuy lòng tháp chứa đầy bóng tối nhưng đỉnh tháp luôn có các ô cửa mở thẳng vào trời xanh, và khi nắng đi ngang qua đỉnh tháp ánh sáng sẽ xổ xuống các ô cửa một luồng sáng thần bí cứ như thể một cánh cửa khác cho ta cắt qua thời gian và không gian để đi vào vũ trụ. Bốn mùa tháp đều đứng trơ trơ và mỗi lúc một vươn cao như mầm non căng đầy sữa, và chất chứa bao hình ảnh, âm thanh của cuộc sống – những buổi trai gái hẹn hò tát nước đêm trăng, những buổi làng tế thần, những trò chơi ngày hội, những điệu kèn, nhịp trống, tiếng chiêng… Nhạc sĩ Văn Cao nhìn dáng vẻ của tháp cổ đã ví đó như giọt nước từ trời xanh rơi xuống. Những người thường lại nhìn tháp như người đi bộ phong sương. Không giống những công trình khác, tháp Nhạn đứng độc phong, lẻ loi. Quanh tháp cũng thưa cây, như thể không muốn cây lấy đi tầm nhìn của người lữ thứ cũng như người Chăm không muốn trồng cây trong nhà vì sợ ma quỷ ẩn nấp làm tổ tiên sợ hãi không dám về với con cháu. Tuy nhiên, ở một khoảng cách đều đặn luôn có các nhành hoa đại nở trắng hồng thơm ngát. Gần đây, để tạo nên vẻ đẹp lung linh của tháp vào đêm, người ta cũng thắp đèn chiếu sáng trên nhiều góc độ và bề mặt tháp.

Khoa học vẫn chưa phát hiện được kỹ thuật xây dựng tháp Nhạn nên đã đặt ra câu hỏi phải chăng có một nền văn minh khác ngoài trái đất đã tới đây xây dựng tháp. Nhưng về kiểu dáng và ý nghĩa của tháp, người ta thấy rằng tháp Nhạn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tôn giáo Bà La Môn. Tháp mang hình dáng và trên đỉnh cũng có biểu tượng sinh thực khí linga – vật tổ của người Chăm, và là một trong hai sinh thực khí linga-yoni – cơ quan sinh dục của nam và nữ theo tín ngưỡng Chăm – được xem là khởi thủy, nuôi dưỡng và nhân rộng sự sống. Theo đó, linga hình trụ thẳng đứng là cái tạo dựng, định hướng – trục của vũ trụ; yoni nằm ngang là cái chứa đựng, sinh nở, nâng đỡ – nền của vũ trụ. Linga đứng thẳng trên yoni như núi Tu Di đứng trên biển cả. Cả hai như trời đất, âm dương giao hòa cho con người mùa màng tươi tốt, cuộc sống no ấm, hạnh phúc. Vì ý nghĩa linh thiêng ấy, vào lễ Tết người Chăm luôn lấy nước thơm và sữa dội lên đầu linga cho chảy xuống yoni đem tắm gội… Và tập trung quanh tháp để ca hát, múa và trình diễn các sinh hoạt dân gian đặc sắc.

Đồ bàn của tháp Nhạn là một ngọn núi ngay giữa thành phố Tuy Hòa, trong địa phận phường I của Tuy Hòa. Núi có tên chim Nhạn. Hiếm có một nơi nào núi nằm giữa lòng phố như thế, xung quanh là nhà cửa, các trục đường, ngày hay đêm ánh sáng lung linh, khí hậu dịu mát và do đó đã được xem là lá phổi xanh điều hòa khí hậu và đem lại cảnh quan tuyệt vời cho thành phố. Núi Nhạn cao 60 mét, chu vi chừng một kilômét. Xưa vốn là một cù lao nhỏ nằm trong vịnh Tuy Hòa rồi khi vịnh cạn đã ăn vào đất liền. Tương truyền trên núi có rất nhiều chim biển, đặc biệt là bầy nhạn đông tới hàng nghìn con. Chiều chiều, từng đàn chim từ khơi xa bay về náo nhiệt. Trong cách nhìn của người xưa, con chim nhạn khác với loài nhạn biển hiện nay khá nhiều, chúng giống một loài vịt và to gấp đôi chim hải âu. Núi cũng có nhiều cây cối mà nổi bật là hoa mai vàng và sim tím, mỗi độ xuân nở rực rỡ. Núi còn có bầy khỉ lông vàng rất tinh khôn, thường vào ruộng bẻ bắp và ăn cắp hoa quả cúng trong tháp. Đến năm 1961, do chiến tranh liên miên bầy khỉ đã bỏ đi, loài chim cổ cũng không còn song cái tên núi vẫn đó. Và nhờ đó tháp Nhạn vẫn giữ được sự kỳ bí và những huyền thoại. Tháp Nhạn thanh nhã đã tạo thi hứng cho nhiều tao nhân mặc khách cảm cảnh sinh tình nhớ về lịch sử và tuổi trẻ:

Chiều nay bên đỉnh tháp chơ vơ/Ta rớt lòng trên tượng đá mờ/Yểu điệu Shiva thần vẫn múa/Vẫn hồn nhiên cổ Tanđara… Bên trời tháp Nhạn chiều ly xứ/Sông Ba lòng cát trắng như lòng/Chiều nay mang bóng hình thiên cổ/Có xuôi về cửa Đại Chiêm không? (Bên trời tháp Nhạn-Hồ Ngọc Thanh)

thap nhan Tháp Nhạn người độc hành phong sươngTháp Nhạn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tôn giáo Bà La Môn

Đứng bên tháp cổ, có thể dõi toàn cảnh thành phố Tuy Hòa: những cánh đồng ven chân núi, những bến bãi ven sông, những con đường dọc ngang cắt qua thôn xóm, và kia là làng hoa Lãng Ngọc, núi Đá Bia, cồn cát trắng, kia là cây cầu Đà Rằng mầu nâu dài 1.512 mét với 21 nhịp bắc ngang sông là cây cầu dài nhất miền trung, xa nữa là biển Đông rộn sóng. Đến với Phú Yên, du khách luôn rủ nhau leo núi, tập kết ở chân tháp. Đặc biệt vào xuân hay lễ Tết, mọi người đều đổ lên đây từ sớm vãn cảnh, hòa mình vào cây cỏ chim muông, ngồi ngắm nắng nhảy nhót trên tháp và chiếu bóng xuống sông, lắng nghe tiếng sóng nước và sóng lúa rào rạt, ngắm nhìn xe cộ đi lại, cảm nhận từng làn hương tan trong gió và sự ngưng đọng của thời gian,…

Ghé thăm tháp Nhạn, mọi người cũng được hiểu biết thêm về lịch sử của vùng và đặc biệt là cuộc sống của đồng bào Chăm, những người có công xây dựng tháp Nhạn. Chính người Chăm đã cho sông cái tên Đà Rằng từ chữ Ea Rarang theo tiếng Chăm nghĩa là con sông lau sậy. Dài 374 kilômét, con sông chảy qua nhiều tỉnh thành khi đến Phú Yên thì lững lờ trước khi đổ ra biển ở cửa biển Đà Diễn phía nam thành phố Tuy Hòa. Lưu vực sông rộng tới 13.900 kilômét vuông quanh năm cung cấp nước cho đồng bằng Tuy Hòa và tạo nên vựa lúa 20 nghìn hecta lớn nhất trung bộ. Bên sông, người Chăm đã xây dựng tháp Nhạn với ý nghĩa tâm linh rất lớn, là chỗ thờ cúng Mẹ xứ sở đồng thời cũng là nơi nghỉ ngơi ngắm cảnh của thuyền buôn và dân trong vùng. Họ thường đi lại trên sông bằng thuyền gỗ lớn. Mới đây, các nhà khảo cổ đã tìm thấy dưới lòng sông một chiếc thuyền độc mộc dài 8,5 mét rộng 0,5 mét còn rất tốt của người xưa, cũng khai quật được nhiều đồ gốm gồm bình, lọ, vò, chậu, bát đĩa… Đến nay, phần lớn mọi người sống bằng nghề trồng trọt chăn nuôi trong các xóm làng đầm ấm. Phụ nữ rất giỏi đan lát và làm gốm. Gốm thô được nặn bằng sét rồi đưa ra phơi nắng, điêu khắc, sau đó đem nung và hun khói. Từ xưa, nhiều sản phẩm mới và đẹp đều được dâng lên Mẹ xứ sở. Tuy nhiên do chiến tranh, vì kẻ xấu đánh cắp mà các tượng cổ đã không còn thấy.

Người Chăm coi lúa là cây quan trọng nhất tạo nên sự no ấm. Họ quan niệm lúa cũng có hồn như con người, nên cứ tháng chín, tháng mười khi những bông lúa đầu tiên chín, sẽ gặt đem về giã gạo nấu cơm cúng lúa mới tưởng nhớ Nữ thần xứ sở, thần đất và thần nông. Cuối năm, họ có Tết đổ đầu tổ chức từ ngày 25 đến ngày cuối cùng của tháng chạp để tỏ lòng ơn Yàng, thần lúa, đất, nước… Hàng năm, người dân có lễ mở cửa tháp để đón chào các vị thần, và cứ đến lễ Tết lại tập trung quanh tháp để cúng bái, giao lưu, múa hát bên tháp bên sườn đồi và trên sông với các điệu múa nổi tiếng như múa đội lu, múa quạt, múa đạp lửa…. trong tiếng trống ginang, trống baranưng, kèn xaranai, đàn kanhi, chiêng, lục lạc rộn rã… Từ sớm đến khuya, đâu đâu cũng là một không khí kính cẩn, hồn hậu và bình yên.

Bài và ảnh: CHU MẠNH CƯỜNG (phaply.net)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu