Đến đầu thế kỷ XXI, tức gần một thế kỷ sau ngày ông mất, thân thế, sự nghiệp của Phó bảng Lê Trinh bắt đầu hé lộ qua việc một số cháu nội của ông bỏ công sức sưu tầm, đã phát hiện một số tư liệu lịch sử có liên quan đến ông. Dù không theo con đường bạo lực vũ trang chống Pháp nhưng cụ Lê Trinh vẫn một lòng vì dân tộc, giúp đỡ phong trào yêu nước lúc bấy giờ theo cách riêng của mình.
Các tài liệu thu thập được gồm có:
- Hai bản Chế, một bản Dụ của triều đình có nội dung phong hàm, tước cho Phụ chính đại thần, Thượng Thư Bộ Lễ Lê Trinh và một bài Tế do vua Duy Tân sai làm để đọc lúc lễ tang của ông. Tất cả đều bằng chữ Hán có niên hiệu Duy Tân 3 (1909) chưa từng được biên dịch.
- Một tập di cảo thơ, câu đối bằng chữ Hán do ông sáng tác và tự ghi chép.
- Một bản trích yếu lý lịch do Nam triều lập, ghi rõ những chức vụ ông từng đảm nhiệm từ ngày ra làm quan dưới triều Tự Đức cho đến thời điểm ông qua đời dưới triều Duy Tân.
![]() |
| Lê Trinh, thuộc họ tộc “Lê Cảnh” (1) ở Bích La Đông,Triệu Phong Quảng Trị. Ông sinh năm 1850, là con trưởng của ông Lê Cảnh Chính, binh bộ viên ngoại lang, Trung Phụng đại phu, Đô sát viện hữu phó đô ngự sử, hàm nhị phẩm dưới triều Minh Mạng (1820-1840) và bà Lê Bá Thị Huấn. Thuở nhỏ ông học giỏi, nổi tiếng thông minh. Năm 20 tuổi dự khóa thi Hương năm Canh Ngọ, Tự Đức 23 (1870), với danh số Lê Đăng Lĩnh đỗ giải nguyên. Năm 25 tuổi, đổi danh số là Lê Đăng Trinh dự thi Hội năm Ất Hợi, Tự Đức 28 (1875) đỗ Phó bảng. Ông qua đời ngày 12 tháng 9 năm 1909. Nhiều thập kỷ sau đó thân thế và sự nghiệp của ông rất mù mờ ít người biết đến kể cả bà con họ hàng trong dòng tộc. |
Sau khi tổ chức biên dịch các tư liệu bằng chữ Hán nêu trên vào năm 2002, đã cho thấy đây là những bằng chứng lịch sử vô giá, để người đời sau biết đến thân thế và sự nghiệp của người đã khuất có căn cứ khoa học. Một điều tình cờ ngẫu nhiên lý thú, là gần như cùng thời điểm gia tộc phát hiện những tư liệu lịch sử về Lê Trinh như trên, thì bà Lê Thị Kinh (Phan Thị Minh), cháu ngoại cụ Phan Chu Trinh cũng công bố một sự kiện gây chấn động dư luận.
Đó là việc, qua công sức sưu tầm tài liệu ở hải ngoại để viết về học thuyết cách mạng của Phan Chu Trinh, bà đã phát hiện ra bằng chứng về sự kiện lịch sử “động trời” xảy ra đầu thế kỷ XX, về việc Phủ Phụ chính triều Duy Tân - đứng đầu là hai Thượng Thư Cao Xuân Dục và Lê Trinh - đã qua mặt Tòa Khâm sứ Pháp để cứu nhà yêu nước Phan Chu Trinh khỏi tội chết. Đây lại thêm một bằng chứng lịch sử vô giá bổ sung cho việc tái dựng thân thế, sự nghiệp của Lê Trinh.
Dự quan trường trong cảnh rối ren
Lê Trinh tham dự quan trường trong bối cảnh lịch sử và thời đại đầy biến động, nhiễu nhương, phức tạp. Ngoài xã hội, thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc xâm lược, biến đất nước ta thành thuộc địa của đế quốc Pháp, vương triều Nguyễn chỉ còn là công cụ làm tay sai cho Nhà nước bảo hộ Pháp.
Sau ngày vua Tự Đức qua đời, triều đình chia rẽ bè cánh với hai phe giữa hai Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết - phe chủ chiến và Nguyễn Văn Tường - phe chủ hòa với những kịch bản thay vua như thay áo (tứ nguyệt, tam vương - bốn tháng thay ba đời vua).
Trong những năm tháng đầy cam go thử thách đó, Lê Trinh luôn tỏ ra thái độ mẫn cán, trung thành với học thuyết Nho giáo "vua sáng, tôi hiền" (quân chính thiên tâm thuận, quan liêm dân tự an), không tham dự phe phái nào và với chức vụ còn khiêm tốn, ông cũng không có vai trò nào trong các kịch bản thay vua.
![]() |
| Thành viên Phủ Phụ Chính triều Duy Tân. Từ trái qua: TT Tôn Thất Hân (Bộ Hình), TT Nguyễn Hữu Bài (Bộ Lại), TT Huỳnh Côn (Bộ Hộ), Hoàng thân Miên Lịch, TT Lê Trinh (Bộ Lễ), TT Cao Xuân Dục (Bộ Học) (Ảnh chụp năm 1907). |
Cũng do có tài năng và phẩm hạnh, ông được giao nhiều chức vụ ở nhiều bộ có lĩnh vực khác nhau. Năm 1882, ông sung phái đoàn đi sứ sang Trung Quốc. Vua nhà Thanh thử tài sứ thần nước Nam với các câu hỏi thuộc giáo trình tiến sĩ Trung Quốc, Lê Trinh đã đối đáp sắc sảo, vua Thanh rất mến phục khen ngợi ban cho ông mũ áo tiến sĩ và danh hiệu "lưỡng quốc tham mưu”.
Năm 1884, ông làm Biện lí Bộ Hộ, đổi qua Bộ Lại rồi sung giáo đạo các ông Hoàng (trong số học trò của ông có hoàng tử Bửu Lân con vua Dục Đức sau này là vua Thành Thái); năm 1887, làm phó chủ khảo trường thi Hương tỉnh Thừa Thiên; năm 1888 làm tham biện viện Cơ Mật rồi Chưởng Ấn viện Đô Sát.
Năm 1891, ông sung chánh chủ khảo trường thi Hương tỉnh Bình Định rồi thăng tham tri Bộ Hình. Đến năm Thành Thái 4 (1892) ông sung tham tri Bộ Binh, rồi thăng Tổng đốc An Hà (Nghệ An, Hà Tĩnh).
Năm 1899, Thành Thái 10, gặp lúc mẹ ốm nặng và ông cũng vốn nuôi chí thanh nhàn, chán cảnh quan trường làm bù nhìn bên cạnh Chính phủ Bảo hộ của người Pháp, ông xin cáo quan về phụng dưỡng mẹ già.
Vua Duy Tân trong tờ Dụ lập ngày 23 tháng 9 năm Duy Tân 3 truy phong cho ông tước Vệ Nghĩa Tử sau ngày ông qua đời (lời dịch): "Người bề tôi đã mất họ Lê từng làm Phụ chính đại thần, Hiệp biện đại học sĩ, lãnh Lễ bộ Thượng thư, là bề tôi cũ, trong triều đình thì tham gia các việc quan trọng, ngoài các tỉnh thì cai quản các địa phương, nhân dân yên ổn, trộm cắp bặt tăm, nổi tiếng tài năng chăm chỉ…”
Giúp đỡ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
Sau ngày mẹ qua đời và ba năm cư tang, năm Thành Thái 15 (1903) ông nhận được chiếu chỉ của nhà vua triệu về Kinh sung chức Phụ Chính đại thần, Thượng Thư Bộ Lễ kiêm Cơ Mật viện đại thần. Và cũng từ đây, với trọng trách triều đình giao, như con chim bằng được cất cánh trên trời cao, ông đã dốc sức đem hết tâm trí, tài năng phụng sự đất nước trong hoàn cảnh điều kiện riêng của mình.
Năm 1905, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (Nguyễn Sinh Sắc) từ Nghệ An dẫn theo hai con trai là Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung (Côn) vào Huế để hai con được theo tây học trong hoàn cảnh không tiền tài, không thế lực, không bà con thân thuộc ở đất Thần kinh “củi châu, gạo quế”, lại đầy rẫy lũ tay sai dò xét, nhất là với số người đỗ đại khoa nhưng không ra làm việc cho Pháp.
Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, Thượng Thư Bộ Học Cao Xuân Dục, (đồng hương Nghệ An với cụ Nguyễn Sinh Huy, lúc ông làm chánh chủ khảo khoa thi Hội năm Tân Sửu (1901) Thành Thái 13 đã chấm cho 2 ông Nguyễn Sinh Huy, Phan Chu Trinh đỗ Phó bảng) cùng cụ Thượng Thư Lê Trinh ở Bộ Lễ tìm cách cưu mang Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và hai con.
Cụ Cao Xuân Dục đã mời ông Huy đến tư gia bàn bạc và nhận ông Phó bảng vào làm một chức quan ở Bộ Học, như là một công việc mưu sinh để nuôi con ăn học và cũng để tránh mắt dò la của mật thám Pháp.
Sau này, ông Huy đựoc chuyễn sang làm Thừa biện Bộ Lễ dưới quyền cụ Thượng Thư Lê Trinh. Hai cụ Cao, Lê còn bố trí cho gia đình ông Phó bảng ở một căn nhà thuộc dãy trại gần cửa Đông Ba, cũng gần tư gia Thượng Thư Lê Trinh.
Hai con Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung được đổi tên là Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành vào học trường Pháp - Việt Đông Ba rồi trường Quốc Học Huế. Sự kiện hai cụ Thượng Thư Cao, Lê giúp đỡ gia đình Phó bảng Nguyễn Sinh Huy lúc bấy giờ chỉ là một nghĩa cử bình thường trong giới nhà Nho trọng nghĩa, không nơi nào ghi chép và chắc chắn sẽ trôi qua với thời gian nếu không được nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân khơi dậy trong dịp ông đi sưu tầm chứng cứ, tư liệu để viết về thời thơ ấu của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Huế, nhất là về dấu tích của ngôi nhà gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc (Huy) và vợ là Hoàng Thị Loan cùng 2 con nhỏ Khiêm, Cung (Côn) từng sống trong những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, lúc vợ chồng ông cử Sắc lần đầu tiên vào Kinh trọ học để thi Hội.
Việc tìm kiếm vị trí chính xác của ngôi nhà cổ này chỉ có kết quả khi Nguyễn Đắc Xuân tìm gặp cụ Lê Du, con trai và ông Lê Xuyến cháu đích tôn của cụ Thượng Thư Lê Trinh còn sống (năm 1977 - 1978) từng biết ngôi nhà đó, vì ngôi nhà ở ngay đàng sau dinh Bộ Lễ của cụ Thượng Thư Lê Trinh, chủ nhân ngôi nhà lại là người có họ hàng với bên vợ ông Lê Xuyến. Việc làm tình nghĩa của 2 cụ Thượng Thư Cao, Lê lúc bấy giờ đối với gia đình Phó bảng Nguyễn Sinh Huy sau này được giới nghiên cứu sử học đánh giá có tác dụng góp phần ươm mầm cho một nhân tài lớn của đất nước: Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Quyết chọn hoàng tử Vĩnh San nối ngôi Thành Thái
Sau ngày lên ngôi (1888), vua Thành Thái đã tỏ rỏ thái độ khác thường đối với người Pháp so với vua Đồng Khánh (2). Cuộc chống đối khi công khai, khi ngấm ngầm của nhà vua yêu nước này với các quan cai trị người Pháp đã làm cho Chính phủ Bảo hộ ngày càng thấy cần phế truất nhà vua “bất trị" này.
Ngày 12/7/1907, với việc bịa ra chứng bệnh nhà vua “bị điên”, người Pháp đã ép nhà vua thoái vị, giam lỏng một thời gian sau đó đày đi biệt xứ. Một Hội đồng Phụ chính (HĐPC) do đại thần Trương Như Cương đứng đầu, tạm thời điều hành công việc của triều đình trong khi chờ lập vua mới. HĐPC cùng Tòa Khâm sứ Pháp đã nhiều lần họp bàn chọn người kế vị ngôi vua nhưng vẫn bế tắc không tìm được tiếng nói chung.
Phía Pháp muốn chọn một hoàng tử nổi tiếng chơi bời, thân Pháp nhưng HĐPC không chấp nhận. Ý kiến của HĐPC chia phe phái cũng không thông nhất ý kiến đề cử: Phe thì đề cử Cường Để, một ông hoàng đang lưu vong ở Nhật, phe thì muốn tái lập vua Hàm Nghi hiện đang ở châu Phi…mà hai vị này đều là “cái gai” trong con mắt người Pháp!
Trong lúc“quốc thống như ty”(việc nước như tơ vò) thì Phụ chính đại thần Lê Trinh đề xuất ý kiến: "chọn một người con còn nhỏ (không quá 10 tuổi và cũng không dưới 5 tuổi) của vua Thành Thái để kế vị ngôi báu và duy trì một Phủ Phụ Chính để giúp ấu vương cai quản việc nước”.
Ý kiến như trên đã đảm bảo truyền thống "cha truyền con nối” nên cả vua Thành Thái cùng HĐPC tán thành, người Pháp cũng không phản đối vì cho rằng “làm vua ở lứa tuổi đó cũng không gây hại gì!”
Ngay sau đó, hoàng tử Vĩnh San con trai thứ 5 của vua Thành Thái, lúc này 8 tuổi được chọn lập vua mới. Lễ đăng quang cử hành ngày 5/9/1907, niên hiệu Duy Tân. Phủ Phụ chính lúc này gồm có: TT Cao Xuân Dục (Bộ Học), TT Lê Trinh (Bộ Lễ, TT Tôn Thất Hân (Bộ Hình), TT Huỳnh Côn (Bộ Hộ), TT Nguyễn Hửu Bài (Bộ Lại) và hoàng thân Miên Lịch (Phụ chính thân thần).
Tuy còn nhỏ tuổi nhưng khi lên ngôi, vua Duy Tân đã biết người đã có công tôn mình lên ngôi và tỏ ra rất yêu mến, tin cậy đại thần Lê Trinh. Điều đó được thể hiện trên các bản Chế, bản Dụ và đặc biệt là bài Tế dịp tang lễ Lê Trinh.
Bài Chế của hoàng đế thăng hàm cho Lê Trinh có đoạn (dịch nghĩa): "Yêu mến nghĩ đến ông họ Lê chức Phụ chính đại thần, Lễ bộ Thượng thư: xuất thân khoa bảng, rường cột quốc gia…thanh liêm ngay thẳng, nhân tài xưa sánh Di Quỳ, cần mẫn rõ ràng, tướng nghiệp trước như Bính Ngụy.
Vua cha gặp lúc nhọc nhằn,bèn trao tông miếu,con nhỏ đang khi thơ ấu, phải nhận ngôi trời. Cậy một lời mà định kế, hợp hai nước mà suy tôn…Ta lúc tuổi thơ, kính đương ngôi báu, tháo gỡ khó khăn, đã có công lao phò tá, ân cần dạy dỗ, lại giúp đỡ học hành. Đã mến yêu nhiều, nên ban hàm lớn…”.
Hoặc trong bài Tế có đoạn (dịch nghĩa): "Khanh sinh ở thế, tài giỏi tót vời. Năm triều nức tiếng, khuôn mẫu cho đời. Gặp thời bối rối, vận nước bời bời. Khanh cùng phụ chính, tháo gỡ xong xuôi…Ta là con nhỏ, hiểu biết nông khơi. Nhờ khanh chỉ bảo, dạy đạo làm người…”
Có thể nói, cùng với việc giáo dục hoàng tử Bửu Lân vào những năm 80 và phò tá dạy dỗ hoàng tử Vĩnh San, đại thần Lê Trinh đã có sự đóng góp to lớn để đất nước có hai vị vua yêu nước là Thành Thái và Duy Tân làm rạng rỡ truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Cứu nhà yêu nước Phan Chu Trinh thoát tội chết
Các ông Nguyễn Sinh Huy (Sắc), Phan Chu Trinh cùng đỗ Phó bảng khoa thi Hội năm 1901 do Thượng Thư Bộ Học Cao Xuân Dục làm chánh chủ khảo. Ngay sau khi thi đỗ đại khoa, Phó bảng Phan Chu Trinh được vào ngạch hậu bổ công tác ở Bộ Học sau đó nhận chức thừa biện Bộ Lễ lúc ông Lê Trinh nhận chức Thượng Thư bộ này(1903).
Tuy nhiên, do không có chí làm quan nên thừa biện họ Phan đã từ quan đi hoạt động cách mạng. Cụ Thượng thư họ Lê tuy mới về nhậm chức nhưng cũng đã biết tài năng cùng chí hướng của ông Phó bảng họ Phan thuộc hạ trùng tên với mình.
Đến đầu năm 1908 xảy ra sự kiện Phan Chu Trinh bị Pháp bắt ở Hà Nội, bị Pháp kết tội "phản nghịch, xúi dục dân chúng chống lại CP Bảo hộ” và di lí về Huế giao cho Nam triều với yêu cầu xử mức án “trảm quyết” (chém ngay) để nêu gương.
Ngày 10/4/1908, Hội đồng Cơ mật viện xử cụ Phan mức án: "trảm giam hậu” (giam trước, chém sau). Ngày 11/4, Tòa Khâm sứ không chấp nhận mức án đó, đã yêu cầu Phủ Phụ chính xử lại với mức án "trảm quyết”.
Song hai quan Thượng Thư Cao Xuân Dục, Lê Trinh đứng đầu Phủ phụ chính vốn đã biết tài năng, chí hướng của Phó bảng họ Phan, ngày 12/4 - tức là chỉ sau một ngày, hai cụ Thượng Thư Cao, Lê trên cương vị nhiếp chính đã thay vua quyết định y án “trảm giam hậu” và ra lệnh thi hành án ngay để người Pháp không kịp trở tay can thiệp!
Ngày 24/4/1908, Nam triều đã đưa cụ Phan đi đày ra giam ở đảo Phú Quốc. Bản án sáng suốt này đã tạo cơ hội cho dư luận tiến bộ trong nước và ở cả nước Pháp dấy lên phong trào phản đối thực dân Pháp bắt giữ nhà yêu nước Phan Chu Trinh, và chỉ hai năm sau, vào cuối tháng 3/1911, người Pháp ở Đông Dương buộc phải trả tự do cho cụ Phan.
Ngay sau thoát khỏi ngục tù Côn Đảo, cụ Phan đã sang Pháp để vận động thay đổi chế độ thuộc địa của đế quốc Pháp. Trường hợp cứu Phan Chu Trinh, một lần nữa cho thấy mặc dù có chính kiến khác với những người yêu nước đi theo con đường bạo lực vũ trang chống Pháp nhưng một số đại thần như Lê Trinh, Cao Xuân Dục vẫn một lòng vì dân tộc, giúp đỡ phong trào yêu nước lúc bấy giờ theo cách riêng của mình.
| Thơ và câu đối của Bích Phong (bút hiệu của Lê Trinh): |
| Trong thời gian nhàn rỗi hay trước một cảm xúc về thiên nhiên hoặc cuộc sống, đại thần Lê Trinh thường làm thơ bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm với bút hiệu“Bích Phong” và tự ông ghi chép vào một tập để lưu niệm. Ông không tự nhận mình là nhà thơ, cũng không gọi tập thơ của mình là "Bích Phong thi tập” như phần lớn quan lại cùng thời làm thơ cho in, xuất bản như: "Đào trang thi tập”của Hồng Đài tức Nguyễn Phúc Hồng Vịnh, "Hà Đình ứng chế thi sao” của của Hà Đình tức Quốc Sử quán phó tổng tài Nguyễn Thuật, "Tốn Am thi tập" của Bùi Ân Niên và nhiều nhà khoa bảng khác đều là bạn tri âm của Lê Trinh. Tập di cảo thơ của ông gồm hơn 50 bài thơ thuộc các thể loại: Thất ngôn bát cú, ngũ ngôn,tứ tuỵêt, ngoài thơ ông còn ghi chép hơn 100 câu đối,dưới dạng bản thảo, ngoài bìa để trống không có chữ gì! Sau gần 100 năm được lưu giữ cùng gia phả, đến những năm đầu thế kỷ XXI, tập di cảo thơ, câu đối này mới được biên dịch và xuất bản dưới nhan đề Bích Phong di thảo (Lê Ngân biên soạn - Lê Nguyễn Lưu biên dịch. NXB Thuận Hóa - 2006). Một số nhà nghiên cứu đọc Bích Phong di thảo đã có nhận xét, đây là một tác phẩm có giá trị về văn học, về lịch sử. Qua tập thơ câu đối của Bích Phong có thể tiếp cận hàng loạt nhân vật nổi tiếng cùng thời kể cả một số học giả Trung Quốc ông có quan hệ, một số địa danh ở miền Trung nay đã mất, những nhân vật cổ xưa của Việt nam, Trung Quốc, hiểu biết thêm về phong tục tập quán, lễ nghi cung đình và cả cuộc sống lớp người lao động chân lấm tay bùn trong xã hội đương thời. Một số ít bài thơ, câu đối đã phản ánh quan điểm chính trị của nhà thơ và là đại thần trụ cột của triều đình cho thấy ông không đồng tình với các biện pháp chống lại chính quyền bảo hộ bằng cách mạng bạo lực, ông thiên về thuyết “lễ trị”của Nho giáo, tuy nhiên ông vẫn ngưỡng mộ số nhà khoa bảng tham gia hoạt động vũ trang chống Pháp, giành cho họ nhiều cảm tình như đối với các ông Hồ Sĩ Tạo, Hồ Bá Ôn, Bùi Ân Niên, Nguyễn Thuật…và cả trong trường hợp cứu nhà yêu nước Phan Chu Trinh thoát tội chết. Trong “Tuyển tập Lương An" (NXB Thuận hóa 2005) nhà nghiên cứu Lương An(đã quá cố) đã xếp Bích Phong vào danh sách thi nhân VN trong thế kỷ 19. |
Chú thích:
(1) Họ Lê Cảnh xưa gốc ở làng Mỹ Đức, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Năm Quang Thiệu thứ 7(1522) đời vua Lê Chiêu Tông, ngài thủy tổ cùng thủy tổ 15 họ khác vào nam khai thác đất đai lập xã Hoa An, thời Tây Sơn đổi tên thành xã Hoa La, triều Nguyễn cải lại thành Bích La chia làm bốn giáp: Đông, Tây, Nam, Hậu, hiện có 4 chi họ Lê: Lê Mậu, Lê Cảnh, Lê Văn, Lê Bá. Lê Trinh thuộc tộc Lê Cảnh ở Bích La Đông nay thuộc xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
(2) Khi vua Đồng Khánh băng hà (1889), lẽ ra hoàng tử trưởng Bửu Đảo được kế vị nhưng triều đình lại chọn hoàng tử Bửu Lân là con vua Dục Đức để tôn lên ngôi tức vua Thành Thái. Sau ngày vua Thành Thái bị phế truất người Pháp muốn đưa Bửu Đảo kế vị nhưng không được Phủ Phụ Chính Nam triều đồng ý. Đến sau ngày vua Duy Tân bị phế truất và đi đày, tình thế bắt buộc phải chọn một hoàng thân hợp “khẩu vị”người Pháp nên Bửu Đảo được chọn lên ngôi tức vua Khải Định nổi tiếng “vua bù nhìn thân Pháp”
Trúc Diệp Thanh (Khoa học Đời Sống)
- Tài liệu tham khảo:
1. Bích Phong di thảo (NXB Thuận Hóa - 2006).
2. Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế ( Nguyễn Đắc Xuân - NXB Văn học - 2003)
3. Các bài tham luận của các tác giả PGS TS Đô Bang, PGS TS Lê Thanh Bình, Nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân...tại Hội thảo về Phó bảng Thượng Thư Lê Trinh ở Đông Hà (QT) ngày 12/9/2009.

