Tiến sĩ Vũ Duy Đoán, đời Lê Huyền Thông năm 17 tuổi định bỏ học thì nằm mộng thấy có vị Thần cầm dao đến vật ngửa mình ra rồi mổ bụng, cạo ruột, nạo bỏ chất đục đi. Khi tỉnh dậy thấy nhâm nhẩm đau bụng, nhưng từ đó ngày một minh mẫn, học hành tiến bộ.
Vũ Duy Đoán mơ bị Thần mổ bụng, cạo ruột
Vũ Duy Đoán (1621 - ?) người xã Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là thôn Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, Hải Dương).
Ông là con của Tiến sĩ Vũ Bạt Tụy nhưng học hành rất tối dạ, đọc sách cả ngày không nhớ nổi một chữ.
Đến năm 17 tuổi chán học quá định bỏ học mà chuyển sang nghề khác, một đêm Vũ Duy Đoán nằm mộng thấy có vị Thần cầm dao đến vật ngửa mình ra rồi mổ bụng, cạo ruột, nạo bỏ chất đục đi. Khi tỉnh dậy thấy nhâm nhẩm đau bụng, nhưng từ đó ngày một minh mẫn, học hành tiến bộ, văn chương dần nổi tiếng.
![]() |
| Các sĩ tử xưa xếp hàng chơ vào phòng thi. Ảnh IE |
Vũ Duy Đoán thi Hương đỗ đầu (Giải nguyên), rồi thi Hội lại đỗ đầu (Hội nguyên) khoa Giáp Thìn (1664) đời Lê Huyền Tông, làm quan nổi tiếng là người cứng cỏi, cương trực, khẳng khái, không ngại nói thẳng. Ông giữ chức đến Thượng thư Bộ Công, tước bá, sau khi mất, được truy tặng chức Hữu Thị lang Bộ Hộ.
Vũ Duy Đoán từng viết sách Kim giám lục dâng lên khuyên chúa giữ lòng, làm tốt việc trị nước, nên biết người, dùng người, không nghe gièm pha được chúa khen là bề tôi ngay thẳng.
Khi về trí sĩ, ông còn viết sách về các phong cảnh làng Mộ Trạch, Nông gia khảo tích, Dị văn ký… Trạng nguyên Đặng Công Chất ca ngợi: “Học thức trong bụng ông như nuốt cả gác sách Thiên Lộc, hút gác sách Thạch Cư”.
Mơ chém đầu ngựa, thay đổi trường thi
Trần Bảo (? - ?), người xã Quan Sơn, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay thuộc xã An Sơn huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương), thuở nhỏ mồ côi cha, một người thông gia ở làng Canh Hoạch (nay thuộc xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, Hà Nội) thương tình đem về nuôi dạy nhờ thế đến khi trưởng thành, Trần Bảo đã trở thành người có tài năng cái thế.
Đến khoa thi Hương, Trần Bảo trở về quê cũ đăng tên ứng thí nhưng mấy lần đều không đỗ sinh ra buồn bực. Một đêm ông nằm mộng thấy mình chém đầu một con ngựa.
Khi tỉnh dậy bèn tự đoán rằng: Mã (ngựa) là ngọ, mà ngọ là tượng trưng của phương Nam”. Thế rồi ông đến trường thi Sơn Nam thi, quả nhiên đỗ Giải nguyên, rồi thi Hội đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1541) đời Mạc Phúc Hải, sau lại đỗ khoa Đông Các.
Trần Bảo làm quan đến chức Tham Chính, tước Văn Phạm Bá, nổi tiếng thanh bạch, nếp nhà thanh bần, văn chương được coi là mẫu mực một thời. Ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị như Chí Linh phong thổ ký, Vương Thăng truyện, Ngư tiều canh mục phú…
Đỗ Uông và lời nói của con yêu nữ
Đỗ Uông (1532 - 1600), người xã Đoàn Lâm, huyện Gia Phúc, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, Hải Dương) cùng với Phạm Trấn, người cùng huyện đều nổi tiếng về kiến thức rộng nên có ý ganh đua nhau trong việc học. Trong làng Đỗ Uông có một miếu thờ nữ yêu tinh, mỗi khi học bài xong, đi ngủ ông thường mơ thấy yêu tinh hiện ra nói rằng:
- Trấn đỗ Trạng nguyên, Uông đỗ Bảng nhãn
Đỗ Uông bực lắm càng cố sức học, ý muốn tranh bảng vàng sau này với Phạm Trấn. Một tối đang đọc sách, bỗng bên ngoài cửa sổ có cánh tay thò vào, Đỗ Uông đoán đó là tay yêu tinh, sáng hôm sau ông đến hỏi một pháp sư, người đó bảo:
- Từ nay, hễ thấy nó thò tay vào thì cậu dùng chỉ ngũ sắc buộc lại, nó sẽ không thể biến được.
Đỗ Uông nghe vậy cố ý rình, đến canh khuya, ông lại thấy con yêu tinh thò tay vào trêu bèn lấy chỉ ngũ sắc buộc ngay song cửa khiến tay nó cứng đờ không thể rút ra được. Đến gần sáng nó khóc lóc van lơn mà nói:
- Tôi thấy cậu sắp đại quý nên mới đùa bỡn, sao cậu lại nỡ nhẫn tâm thế?
Đỗ Uông bèn hỏi:
- Như tài học của ta đây có thi đỗ được Trạng nguyên hay không?
Con yêu đáp:
- Trạng nguyên sẽ về tay họ Phạm, ông chỉ đỗ thứ 2 mà thôi!
Đỗ Uông bèn tháo chỉ ngũ sắc tha cho yêu, nó bèn thổ ra một viên ngọc tặng cho ông. Đỗ Uông bèn bỏ vào mồm nuốt chửng, từ đó về sau học một biết mười, văn chương càng xuất sắc như nhả ngọc phun châu khiến Phạm Trấn cũng không theo kịp.
Thế nhưng đúng như lời nói của con yêu tinh trong giấc mơ và trong đời thực, khoa thi năm Bính Thân (1556) đời Mạc Tuyên Tông (Mạc Phúc Nguyên), Phạm Trấn đỗ Trạng nguyên còn Đỗ Uông chỉ đỗ Bảng nhãn, kém một bậc.
Giấc mơ buồn cười của Trịnh Cảnh Thụy
Trịnh Cảnh Thụy (1560 - 1617), người xã Chân Bái, huyện Yên Định, trấn Thanh Hoa (nay thuộc huyện Thiệu Yên, Thanh Hóa) đỗ Tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Nhâm Thìn (1592) đời Lê Thế Tông.
Trước kỳ thi một đêm, ông nằm mơ thấy một giấc mơ rất buồn cười, hai vai mình gánh hai thằng Ngô (Ngô là một cách gọi thời xưa chỉ người Trung Quốc). Khi tỉnh giấc, ông không hiểu đó là điều gì nên cứ băn khoăn mãi.
Đến hôm vào trường thi, đề ra rất khó nên phần lớn thí sinh không làm được nhiều, bấy giờ ở hai bên lều thi của Trịnh Cảnh Thụy là lều của hai bố con họ Ngô, người xã Lý Trai, huyện Đông Thành, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, Nghệ An).
Người con là Ngô Trí Hòa học giỏi, trí nhớ tốt nên làm bài xong sớm có ý muốn giúp bố nhưng ngặt một nỗi là lều thi của Trịnh Cảnh Thụy ở giữa nên phải nhờ đưa bài giúp cho bố mình là Ngô Trí Tri. Trịnh Cảnh Thụy đang bí, được bài của Trí Hòa đưa cho thì mừng lắm mới đọc lướt qua, lấy ý để làm bài của mình rồi chuyển bài cho Trí Tri.
Điều lạ lùng là khoa thi năm đó chỉ lấy đỗ Tiến sĩ có 3 người và 3 người đó là Trịnh Cảnh Thụy, Ngô Trí Hòa (đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân) và Ngô Trí Tri (đỗ Đệ tam giáp giáp tiến sĩ xuất thân).
Trong giấc mộng thấy Thành hoàng viết chữ vào bụng
Nguyễn Xuân Chính (1588 - ?) còn có tên là Nguyễn Xuân Sinh, người xã Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay là xã Phù Chẩn, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh) mới lên 3 tuổi đã mồ côi cha, gia đình nghèo khó, túng thiếu nhưng thấy con thông minh nên bà mẹ quyết tâm lo toan, chạy vạy kiếm tiền nuôi con ăn học mong sau này đỗ đạt, làm nên sự nghiệp.
Tương truyền một hôm Nguyễn Xuân Chính nằm ngủ, bỗng mơ thấy có một ông già xưng là Đại vương thần từ Thành hoàng làng lấy bút viết vào bụng mình hai chữ “Trạng nguyên” và cho một cái thước trên đó đề hai chữ vàng “Trạng nguyên”.
Khi tỉnh dậy ông đem chuyện đó nói với mẹ và những người hàng xóm, ai cũng cho đó là điềm báo tốt, lớn lên thế nào cũng chiếm bậc cao nhất của bảng Tam khôi và đều động viên Nguyễn Xuân Chính gắng học. Từ đó ông càng nuôi chí đứng tên trên bảng vàng.
Năm 13 tuổi, Nguyễn Xuân Chính dự thi Hương chỉ trúng tam trường nên đâm ra chán nản, trễ nải việc học, suốt ngày chỉ ngủ. Một hôm ông lại mơ thấy Thành hoàng nói rằng:
- Đời là chiếc máy huyền đóng mở khôn lường. Vậy bể đâu còn lắm nhưng nếu ngươi gắng sức, ắt có ngày thành công.
Nguyễn Xuân Chính bừng tỉnh, lại càng ngày đêm chăm chỉ đèn sách. Năm 19 tuổi, một lần ông đội lễ ra đình cúng các bậc tiên hiền, trong khi chờ đến lượt mình lễ, ông ngả người thiu thiu ngủ thì chợt mơ thấy có người bảo:
- Trạng nguyên chớ nằm!
Nghe vậy ông càng vui mừng, hứng khởi. Nhờ quyết tâm lớn, đến khoa thi năm Đinh Sửu (1637) đời Lê Thần Tông, Nguyễn Xuân Chính đỗ Trạng nguyên. Đây là sự kiện lớn bởi trải qua nhiều khoa thi mà chưa lấy đỗ Trạng nguyên, vì thế nhà vua đã đặc cách ban thưởng cho ông nhiều tiền bạc, gấm vóc rất hậu. Sau đó ông làm quan trải nhiều chức như Tả Thị lang Bộ Lại, Nhập thị Kinh diên, tước Đạo Ngạn bá. Sau khi mất, ông được truy tặng chức Thượng thư, tước hầu.
Lê Thái Dũng (Khoa học Đời Sống)
