Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Hội Phủ Giầy

18/04/2009 6 phút đọc Tổng hợp: Việt Khuê
Hàng năm vào thượng tuần tháng 3 âm lịch, chính hội là 3/3, du khách thập phương nô nức hành hương về với Hội Phủ Giầy,
Hội Phủ Giầy

Hàng năm vào thượng tuần tháng 3 âm lịch, chính hội là 3/3, du khách thập phương nô nức hành hương về với Hội Phủ Giầy, nơi thờ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh, người Mẹ linh thiêng của dân tộc Việt Nam. Tục thờ Đức Thánh mẫu có ở khá nhiều nơi như Phố Cát (Thanh Hóa), Đền Sòng (Nghệ An)... Nhưng có lẽ tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nơi Mẫu sinh) là thu hút khách thập phương hơn cả.

  Khu di tích Phủ Giầy tại xã Kim Thái huyện Vụ Bản Tỉnh Nam Định

 Du khách trảy hội Phủ Giầy vừa để dự ngày giỗ Mẹ, vừa để thỏa nguyện tâm linh và được ngắm nhìn một quần thể kiến trúc lăng chùa truyền thống vô cùng độc đáo. Hội Phủ Giầy thực sự hấp dẫn khách bởi sự đan xen, hòa quyện giữa những nghi thức trang trọng cùng những hoạt động văn hóa dân gian sôi nổi, đặc sắc. Tiêu biểu nhất trong hội Phủ Giầy là nghi lễ rước Thánh Mẫu từ phủ chính (Tiên Hương) lên chùa Gôi vào ngày 6/3. Ðám rước Thánh Mẫu dài gần 1 km, rất trang trọng có đội ngũ nhạc, có phường bát âm. Ðến ngày 7/3 sinh hoạt văn hóa "Hoa trượng hội". Ðây là nét độc đáo nhất của lễ hội. Mỗi lần xếp chữ cần khoảng 100 phu cờ, mặc đồng phục, chít khăn đỏ, áo vàng, thắt lưng xanh, quần trắng, xà cạp đỏ. Mỗi người cầm cây gậy dài khoảng 2 mét. Người điều khiển gọi là tổng cờ. Vào cuộc chủ lễ xin Mẫu "ra chữ" sau đó theo nhịp trống chiêng rộn rã xếp thành những dòng chữ nho đầy ý nghĩa.

Hòa trong không khí sinh hoạt văn hóa dân gian, du khách còn được xem rước thỉnh kinh, rước kiệu bát cống long đình, xem múa rồng hội trên núi Tiên Hương.... Và khi màn đêm buông xuống, du khách sẽ được đắm mình trong những điệu Chầu văn tha thiết cùng những đèn trời được thả lung linh sắc mầu huyền ảo. Về với Hội Phủ Giầy, du khách như được trở về với cội nguồn dân tộc, bởi nơi đây quy tụ rất nhiều những tinh hpoa văn hóa ngàn đời của dân tộc ta. Và đó còn là một nhu cầu của vẻ đẹp tâm linh trong những ngày đầu năm mới.

***

Phủ Giầy - lung linh huyền thoại

Ðiều kỳ lạ là trong các đền đài miếu mạo, người ta tôn thờ, hoặc là thờ nhân thần - những người có công với đất nước, hoặc là thờ thiên thần, được coi là các bậc linh thiêng màu nhiệm trở che cho dân chúng. Nhưng ở Phủ Giầy thờ bà Liễu Hạnh, một vị thánh linh mang cả hai màu sắc thực và ảo.

Bà Liễu Hạnh theo như các sách, truyện hoặc thần phả còn chép lại, bà sinh năm Ðinh Tỵ (1557), triều vua Lê Anh Tôn, tháng Thìn (tháng 3), ngày Dần, giờ Dần (Khoảng 5 giờ sáng ngày mồng 1) con ông Lê Công Chính và bà Trần Thị Phúc, tại làng Vân Cát. Năm 18 tuổi lấy chồng là Ðào Long ở làng Tiên Hương, kế ngay làng Vân Cát. Năm 21 tuổi không bệnh mà mất, để lại một con thơ. Ngày nay hai làng Vân Cát và Tiên Hương đều lập phủ thờ bà.

 Múa Rồng tại lễ hội

Bao trùm lên các sự thật đó, là các huyền thoại đan xen. Nào là trước khi bà Liễu Hạnh chào đời, Lê Công mơ thấy có thiên sứ áp dẫn ông về trời. Tại đây, ông chứng kiến cảnh nàng Quỳnh Nương tiên chúa làm vỡ chén ngọc, bị Ngọc Hoàng đẩy xuống cõi trần 21 năm. Sinh con, Lê Công đặt tên là Lê Thị Thắng. Vì ứng với điềm trong mộng, Lê Công mang hiệu Giáng Tiên (tiên giáng trần).

Tiếp đó là các huyền thoại hiển linh của bà. Nào là bà giúp nhà Trịnh dẹp giặc. Nào là hội kiến với trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan), nhân chuyến ông đi xứ Trung Quốc về tới địa đầu tỉnh Lạng Sơn. Và việc ông dựng tại đó ngôi Minh Thiên tự phủ thờ bà. Rồi ở phố Cát huyện Thạch Thành, Thanh Hoá và cả ở trong Huế cũng có đền Ngọc Trân do bà Quốc Thái dựng lên thờ bà Liễu Hạnh. Ðộc đáo hơn cả là làng Tây Hồ - Hà Nội, cũng có một phủ thờ bà Liễu Hạnh. Trong phủ còn trạm khắc cả một bài thơ do cuộc du ngoạn tao phong giữa trạng Bùng với bà.

Chuyện kể rằng, nhân một bữa Phùng Khắc Khoan cùng hai bạn thơ đang bơi thuyền ngắm trăng hồ Tây, bỗng gặp một cô gái đi chiếc thuyền nhỏ. Ba người hỏi chuyện và cùng nhau làm thơ sướng hoạ. Cảm kích, 3 người định mời cô lên bờ đàm đạo thì thuyền nhỏ lẫn vào sương mù biến mất. Trong lúc mọi người còn đang ngơ ngác, chợt có một làn gió nhẹ làm bay tới một tờ giấy màu hồng, nhặt lên xem thì có một bài thơ như sau:


Vân tắc y thường phong tác xa
Triệu du đâu xuất mộ yên hà
Thế nhân dục thức ngô danh tính
"Nhất đại sơn lâm Ngọc Quỳnh hoa"
Dịch nghĩa:
Mây làm xiêm áo, gió làm xe
Sớm dạo cõi thanh tịnh, tối chơi yên hà
Người trần thế muốn biết họ tên ta
một đời trên non với hoa Ngọc Quỳnh.


"Người trên non" là chữ "tiên" do hai chữ nhân (người) và chữ sơn (núi) ghép lại. Hai chữ Ngọc và chữ Quỳnh ghép lại chữ Quỳnh. Cả bốn câu có nghía là: "Tiên Quỳnh Hoa".

Có ở nơi đâu xứ sở này, hiện thực và huyền thoại quấn quít bên đan xen như một bài thơ làm đẹp thêm cho đời. Nếu tước đi phần huyền thoại, mà người ta gán cho cái tên "mê tín" hoặc "dị đoan", thị sự tích bà Liễu Hạnh trần trụi quá. Và nếu như có tước đi cái phần ảo đó, ta vẫn còn được một thắng cảnh Vân Cát – Tiên Hương đáng cho đời chiêm ngưỡng. Ta cũng còn được những ngày vui hàng năm với hàng trục vạn trai thanh gái lịch dập dìu chảy hội và từ đó bồi đắp thêm cho cuộc sống trần gian ngắn ngủi, cho ngày xuân của ta chắp cánh bay lên. Nhưng thử hỏi mất đi phần huyên thoại, nhân loại còn là nhân loại nữa không ?

 

Viet Khue (Theo dulichvietnam)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu