Xứ Mường Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh gọi là Mường trong, còn vùng Mường Hòa Bình, Phú Thọ gọi là Mường ngoài. Khái niệm trong và ngoài này không biết có ý nghĩa đời sống cội rễ văn hóa Mường nằm ở phía trong hay không, hay chỉ có nghĩa về mặt địa lý.
1. Theo đường mòn Hồ Chí Minh, chúng tôi đi qua những miền núi non rất đẹp, nhất là địa vực rừng quốc gia Cúc Phương, những dải núi đá và đất chạy chếch theo hướng Tây Bắc thoải ra Đông Nam, dựng nên nhiều dải núi thành phần cắt đồng bằng phía Đông và núi non phía Tây cũng như nhiều địa vực có chiều sâu theo hướng Đông Tây, nếu ta đi ngược dòng sông Mã. Từ đây chúng tôi đi men theo các đường xuyên huyện, nếu có về thị xã Thanh Hóa thì đi theo đường Vĩnh Lộc ngang qua thành Nhà Hồ, hoặc qua đường Thọ Xuân gần khu Lam Kinh.
Hàng chục người trong bản xúm vào hò reo bắt cá theo một tập tục cộng đồng
Với 4 - 5 ngày trên đường, chúng tôi thấy 8 giờ sáng mà hầu hết người dân các huyện vẫn đóng cửa im ỉm, thật khác với nông dân đồng bằng sông Hồng, một nắng hai sương. Họa sỹ Phan Bảo nói người Thanh Hóa sống rất thong thả, không ham kiếm tiền, ở mặt này người ta cho rằng lười lao động hay không muốn phát triển, nhưng ở mặt khác, đó lại là lối sống giữ gìn thiên nhiên, nông nhàn và lấy sự đạm bạc làm hạnh phúc.
Đi qua nhiều tỉnh thành thấy cảnh biển lật sông nhào mà lo cho môi trường sống ngày càng ô nhiễm và cạn kiệt của đất nước, mới thấy cảnh tượng nông nhàn ở xứ Thanh có lẽ làm cho ta đáng suy nghĩ và môi trường thiên nhiên ở đây cũng biến đổi khá chậm, trừ một vài vùng núi đá đang bị khai thác nham nhở và bụi mù.
Người xứ Thanh nói với tôi: Người thành thị các anh là những con thiêu thân cho rau tưới nước bẩn, thịt gia súc nuôi bằng thức ăn tăng trọng, thóc đầy thuốc sâu, hoa quả phun thuốc bảo quản, xà phòng thật trắng với độ tẩy kinh người, đường kính trắng bốp cũng đầy thuốc tẩy...và một bầu không khí toàn khói xăng xe máy. Tất nhiên bù lại các anh kiếm được nhiều tiền để chữa bệnh ung thư. Hoạ sĩ Phan Bảo khoái vô cùng với ý kiến này.
Nhớ lại lời của người Nguyên Bình, Cao Bằng: Tôi không mong dưới những thửa ruộng này là mỏ vàng mỏ bạc gì, mới là mỏ sắt mà chúng tôi sắp ra đứng đường rồi. Đó là một nghịch lý của sự phát triển khi khơi sâu khoảng cách giàu nghèo, thì ở nơi càng nhiều tài nguyên người dân càng khốn khó.
Đi sâu vào những huyện miền núi cảnh tượng còn vắng vẻ hơn, có nơi cả ngày không thấy bóng người, hỏi vài người dân ở Quan Hóa họ cho biết nơi đây vừa trải qua một đợt nắng nóng tới 42 độ, tất cả chui vào hang cả ngày, và cái nóng nơi đây không hoàn toàn nguyên nhân do gió Lào, mà đây là cái chảo tích nhiệt tự nhiên như vậy.
Hôm nay là thứ Hai, tất cả các học sinh đều mặc y phục dân tộc, đó là quy định. Các em học sinh Mường, Mông, Dao, Thái...với những bộ phục trang truyền thống của mình thật tươi đẹp nhường nào.
Nhà sàn trở lại xứ Mường
Cuộc trò chuyện bắt đầu từ những lo lắng về sự hòa tan của văn hóa sắc tộc, nhất là khi tôi nhắc lại ý kiến của Inrasara nhà thơ Chàm về tiếng Chàm đang được độn (theo chữ dùng của Inrasara) tiếng Kinh tăng lên theo lớp trẻ. Thầy hiệu trưởng cũng nêu ra vấn đề như vậy, không chỉ nhà cửa, y phục, tập tục, mà nhiều làng đã từ bỏ hoàn toàn tiếng mẹ đẻ và nói tiếng Kinh. Và như vậy chỉ hai thế hệ nữa người Mường sẽ biến mất tại những làng đó. Một ngôi nhà sàn đơn sơ dựng ở đầu trường và một số dụng cụ nông nghiệp cổ truyền nhắc cho các học sinh về văn hóa truyền thống của dân tộc họ.
Tuy nhiên ông thầy có vẻ ngượng khi trên sàn còn đầy thức ăn, chắc vừa có cuộc liên hoan. Ông giới thiệu một bàn thờ thần linh, mà một ông mo cao tay đã cúng cho tất cả các cháu được an lành khi đến đây học. Ông nói đây là một tập tục với mục đích ước mong cho con cháu của nhiều sắc tộc khi xa làng bản được tốt đẹp.
Tôi nêu ra vấn đề nhiều ngôi nhà sàn đã được dỡ đi để xây nhà bê tông dạng nhà sàn, hoặc nhà dưới đất với mái lợp tôn xi măng. Ông nói rằng đó là chủ trương xóa nhà nghèo tranh tre nứa lá. Tôi nói rằng quan niệm cứ nhà tranh tre nứa là nhà nghèo không thật đúng, vì ngôi nhà được làm ra để ở cho tốt, thì rõ ràng những nhà gạch, bê tông, lợp tôn xi măng xây giản đơn hoàn toàn không tiện nghi bằng nhà tranh tre làm tốt. Vấn đề là làm thế nào chứ không phải nhà bê tông thì hay hơn nhà tre đất. Kết quả là mới đầu Hè mà tất cả những người ở nhà lợp tôn xi măng phải chui xuống gầm sàn hoặc chui vào hang, vì đó là bộ mái hấp nhiệt kinh khủng.
Dọc đường chúng tôi đi dường như có cả một phong trào quay lại nhà sàn gỗ lợp lá truyền thống hay ngói và từ bỏ những nhà bê tông và lợp tôn xi măng. Nhà nước đã rất tốn kém để giúp đồng bào xóa đói giảm nghèo, nhưng rõ ràng trong lĩnh vực kiến trúc dân sự không được nghiên cứu kỹ, đó là chưa kể ngôi nhà sàn bê tông mới chưa hợp về sinh hoạt chứ chưa nói đến vấn đề văn hóa của nó. Khi dựng lại những ngôi nhà sàn gỗ, những đồng bào ở đây đã mất gần hết những thợ giỏi, và cũng vì lý do nào đó, họ thuê thợ mộc và xây dựng từ dưới xuôi. Nhà sàn Mường Thái theo kết cấu cổ vốn chỉ gác các xà lên nhau đơn giản và đòn chặn phía dưới, loại nhà sàn này hoàn toàn chịu được các cơn lũ quét miền núi, chỉ làm xô lệch hệ thống vì kèo chứ không bẻ gãy nó. Còn lối vì kèo có mộng đồng bằng Bắc bộ cầu kỳ hơn, nhưng lại quá chặt dễ làm cho ngôi nhà vỡ tan trong lũ quét. Đó là một trải nghiệm với những dành dụm cả đời người khi rừng không còn nhiều gỗ như xưa.
3. Một hội bắt cá xôn xao ngoài con suối. Hàng chục người trong bản xúm vào hò reo bắt cá. Cá thì không nhiều nhưng đó là một tập tục cộng đồng, theo truyền thống họ có thể nấu ăn chung, hoặc gom lại rồi chia đều.
Nắng miền Tây đang nung đỏ núi rừng, còn những cơn mưa vẫn đang được chờ đợi. Những cái nỏ cuối cùng được cài trong gầm sàn, những khung cửi thô sơ rời rã từng phần dưới chân cầu thang, và chỉ còn ít những bà già mặc váy cao với cạp hoa văn kéo cao lên trên ngực và chiếc áo khóm ngắn.
Phan Cẩm Thượng (TT&VH)