Truyền thuyết tại xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai (Hà Nội) lưu lại, đức thánh Tản Viên có đưa ra một lời nguyền hết sức cay độc rằng: Nếu trai đã lấy vợ, gái đã gả chồng mà vẫn đi hát Dô thì sẽ bị câm điếc hoặc ốm rồi chết. Chính vì thế mà trong đời mỗi người, họ chỉ được hát Dô một lần duy nhất. Sau mỗi lần hát, toàn bộ những bản sao sẽ bị đốt và sách hát gốc được cất vào đền, 36 năm sau điệu hát đó mới được cơ hội ngân lên bởi những Bạn nàng và Ông cái mới.
36 năm mới tổ chức một lần Thật bất ngờ, không gian chúng tôi gặp nghệ nhân Lan không phải là ở nhà hay ở đền Khánh Xuân (nơi thờ đức thánh Tản - PV) mà lại ở ngay trên cánh đồng của xã. Xắn quần lội qua những thửa ruộng còn đang cấy dở chúng tôi được gặp nghệ nhân hát Dô rất đời thường không son phấn, không áo lụa lượt là. Bà Lan cho biết đến với hát Dô là do một cơ duyên. Mặc dù sinh ra tại cái nôi của hát Dô nhưng bà cũng như nhiều người dân ở đây ít biết đến loại hình này vì buổi biểu diễn hát Dô cuối cùng được tổ chức từ năm 1926. Theo lệ thì phải 36 năm sau nó mới được hát lại vào ngày hội đền Khánh Xuân. Tuy nhiên đến năm 1962, do nhiều nguyên nhân nó đã không được tổ chức. Tưởng rằng hát Dô sẽ chỉ còn trong dĩ vãng nếu như không có một cú hích năm 1989. Bà Lan nhớ lại: "Năm đó, Trung tâm Văn hoá tỉnh Hà Tây và Trung tâm Văn hoá huyện Quốc Oai về khảo sát văn hoá dân gian. Khi đó, tôi là Chủ tịch Hội phụ nữ xã, được hợp tác xã giao cho nhiệm vụ giúp đoàn đi tìm hiểu về hát Dô. Hằng ngày, ban ngày đi làm đồng, tối đến lại đến nhà các cụ trong làng để tìm hiểu về hát Dô và đi tìm các Bạn nàng phục vụ buổi biểu diễn theo như lệ cũ. Lúc đầu thấy rất khó, sau dần dần đam mê lúc nào không hay". Bà Lan kể, hát Dô gắn liền với truyền thuyết về đức thánh Tản Viên, một trong Tứ bất tử của Việt Nam. Có truyền thuyết về sự ra đời của hát Dô kể rằng: Một hôm, đức Tản Viên đi chơi qua vùng ven sông Tích, xưa gọi là Lạp Hạ (nay là xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai) thấy ruộng đất phì nhiêu, mới gọi dân làng đến dạy cách đắp bờ giữ nước và bày cho cách chọn hạt lúa to làm giống đem gieo. Đức Tản Viên xuống ruộng làm trước, hẹn ngày lúa chín thì về. Đến mùa lúa nặng trĩu bông dân làng thu hoạch và chờ ân nhân của mình. Nhưng chờ mỏi mắt không thấy đâu. 36 năm sau, ông mới quay trở lại thì thấy dân làng đã giàu có, thóc lúa đầy nhà. Ông liền cho gọi dân làng ra dạy hát, múa hội tưng bừng, mừng dân no ấm. Từ đó trở đi, dân làng cho xây đền thờ để nhớ công ơn ông và cứ 36 năm lại mở hội múa hát một lần, gọi là hội múa Dô. Đời người chỉ được hát một lần Dân trong vùng có một câu ca quen thuộc: "Con hát tuổi hạn hai mươi /Nếu qua độ ấy thì thôi hát hò /Bao giờ đến hội hát Dô/Thì còn phải kiếm gái tơ chưa chồng". Nghệ nhân Nguyễn Thị Lan cho biết, trước kia trong quá trình giúp đỡ các đoàn văn hóa dân gian bà có được gặp cụ Đàm Thị Điều, một trong ba người còn hát được những làn điệu hát Dô cổ. Cụ Điều nói rằng hát Dô chỉ được biểu diễn vào ngày hội đền Khánh Xuân và đúng 36 năm mới tổ chức một lần vào ngày 15 và 16 tháng Giêng. Chính vì thế, bất cứ ai được tham gia đội hát là cả một niềm vinh hạnh lớn của gia đình, dòng tộc. Người dân trong làng tin rằng, nhà mà có người tham gia hát Dô thì cả nhà sẽ làm ăn thuận lợi, hết bệnh tật vì được đức thánh Tản Viên phù hộ. Luật lệ của đức thánh Tản đặt ra với những người dân Liệp Tuyết rất khắt khe: Đội hát gồm 24 thiếu nữ tuổi từ 13 đến 20 gọi là Bạn nàng hay con hát. Trong mỗi điệu hát, chỉ có một Ông cái là nam giới của làng có diện mạo khôi ngô nhất, có tiếng hát trong nhất, tuổi dưới 20. Khi vào hát trong đền mọi người đều phải "quang quẻ" tức là phải trong sạch, không có tang tóc hoặc việc buồn. Sau khi tập luyện thành thục thì đội hát sẽ được hát trong chính hội. Hát xong, toàn bộ sách vở được sao ra để dạy hát đều được đốt bỏ, chỉ giữ lại một cuốn sách gốc được cất trong chiếc hòm gỗ ở đình làng. Sau hội, Bạn nàng và Ông cái tuyệt đối không được hát những bài hát này nữa. Hát Dô không chỉ thu hút, hấp dẫn, kỳ bí khi nó gắn liền với những lời hèm (lời nguyền) xa xưa mà còn là một loại hình nghệ thuật độc đáo về đạo cụ, cách hát và nơi hát. Ông Nguyễn Đức Tiến, Phó Chủ tịch UBND xã Liệp Tuyết cho biết: "Trước kia hát Dô chỉ được biểu diễn tại một nơi duy nhất là đền Khánh Xuân. Ngày nay, hát Dô đã vượt qua lời nguyền đến với nhiều người hơn". Năm 2008, bà Nguyễn Thị Lan cũng đã mang hát Dô đi biểu diễn ở Malaysia và nhiều hội diễn văn nghệ ở các liên hoan khắp cả nước. Chỉ với một nhạc cụ đơn giản là đôi sênh (hai thanh có chất liệu bằng tre, được đẽo gọt đơn giản) bà đã làm say lòng biết bao người nghe. Em Vi Thị Thảo, một học sinh của CLB hát Dô xã Liệp Tuyết tâm sự: "Thực sự trước kia nghe hát Dô có nhiều điều kỳ bí liên quan đến lời nguyền. Nhưng từ năm 2008, GS,TS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội văn nghệ dân gian Việt Nam có cùng một số người của UNESSCO về nghiên cứu hát Dô em nghĩ: Tại sao họ không phải người làng mình mà còn yêu quý hát Dô vậy? Trong khi đó, người quê mình lại không biết hát những di sản của cha ông để lại". Đó là một trong những lý do để Thảo tham gia CLB để học hát Dô- một di sản quý của cha ông để lại. Nếu như hát Xoan của Phú Thọ là tiếng xuân đọc chệch để kiêng đi các vị thánh mẫu truyền thuyết thì với hát Dô chưa có một khái niệm cụ thể được đưa ra là tại sao lại gọi là hát Dô. Theo bà Lan thì cái tên hát Dô là do thánh Tản Viên sơn dạy và Ngài đã đặt tên cho. Nhưng theo các nhà nghiên cứu thì sở dĩ có tên như vậy bởi trong các chặng hát của hát Dô thường lặp đi lặp lại điệp từ: "Huầy dô, do các Bạn nàng hát. Cứ như thế, điệp từ này xuất hiện với tần suất nhiều và có thể người dân địa phương đã đặt tên theo cách đó, không phải dựa vào nội dung mà đặt tên căn cứ vào những điệp từ nối tiếp. Cuộc sống lao động có nhiều khó khăn làm cho tinh thần tập thể cao, nên những tiếng dô ta, dô hò xuất hiện như một sự động viên, cổ vũ. Dần dần nó trở thành những điệp từ lặp đi lặp lại. Cứ như thế, điệp từ này xuất hiện với tần suất nhiều và có thể người dân địa phương đã đặt tên hát Dô theo cách đó".
Chạy quanh con đê ngoằn ngoèo tựa bên dòng sông Tích quanh co, chúng tôi đến xã Liệp Tuyết - nơi duy nhất trong cả nước có loại hình nghệ thuật hát Dô - một trong những điệu hát cổ xưa nhất tại Việt Nam. Theo sự chỉ dẫn của các cụ trong làng chúng tôi tìm gặp nghệ nhân hát Dô Nguyễn Thị Lan, Chủ nhiệm CLB hát Dô xã Liệp Tuyết - người được mệnh danh là cuốn "từ điển sống" về hát Dô của xã. CLB hát Dô xã được thành lập năm 1990, khi ấy có 25 thành viên, hiện nay có khoảng 50 thành viên. 
Thiếu nữ tập hát Dô

Chị Nguyễn Thị Lan
(ngoài cùng bên trái)
thu thập hát Dô từ
các cụ cao tuổi.
ĐỖ THƠM – ANH ĐỨC (ĐS&PL)