Nếu biến những lễ hội thiêng liêng thành những buổi biểu diễn văn nghệ nhằm thu hút khách du lịch thì không lâu nữa sẽ làm mất dần sự thành kính đối với dân tộc và lịch sử, làm mất niềm tin trong tâm linh người dân. Đó là cách ứng xử thiếu văn hóa đối với văn hóa.
Lễ hội thiêng liêng hay biểu diễn văn nghệ?
Thời gian gần đây, có một sản phẩm du lịch mới được rất nhiều cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp du lịch quan tâm, đó là du lịch lễ hội.
Việt Nam với hơn 8.000 lễ hội trong năm, lại đa dạng về chủng loại và dày đặc về mật độ nên đây được xem là tiềm năng lớn để xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc, đó là du lịch văn hóa gắn với tín ngưỡng, tôn giáo. Du lịch lễ hội được ví như một mỏ vàng đang bị bỏ hoang.
Thực ra đây là một xu hướng du lịch không mới, thậm chí được khá nhiều quốc gia tổ chức thành công, trong đó đáng chú ý như: Lễ hội té nước trong dịp lễ Tết cổ truyền Songkran tại Thái Lan, lễ hội Chol Chnam Thmay của Campuchia, lễ hội hoa anh đào ở Nhật Bản, hay lễ hội Bia của người Đức ... Các lễ hội này đã được quốc tế hóa và thu hút một lượng đáng kể du khách nước ngoài đến tham gia, góp phần đưa hình ảnh đất nước, con người của quốc gia đó đến với bạn bè thế giới.
Tuy nhiên tại Việt Nam, mặc dù du lịch lễ hội đã được xem là rất thuận lợi do có bề dày lịch sử, văn hóa nhưng vẫn chưa phát huy được hiệu quả, chưa thu hút được du khách như mong muốn.
Lý giải điều này, nhiều ý kiến cho rằng lễ hội ở Việt Nam quá đông người, thường quá tải, dẫn đến tình trạng lộn xộn, giao thông ùn tắc, môi trường ô nhiễm, nạn cướp giật, chèo kéo khách vẫn thường xuyên diễn ra ... Bên cạnh đó, một số lễ hội còn thể hiện sự yếu kém trong công tác tổ chức, chương trình bị chắp vá, bị "sân khấu" hóa, lai tạp, biến tướng, khác xa với nguyên gốc ...
Lâu nay, Huế được xem là địa phương đã khai thác tốt tiềm năng du lịch thông qua các giá trị văn hóa truyền thống. Hàng năm, qua các kỳ Festival, Huế đã thu hút hàng trăm nghìn lượt khách đến tham quan, tìm hiểu. Trong đó các lễ hội như lễ tế Xã Tắc (tế thần Đất và thần Lúa, cầu mùa màng bội thu), lễ tế Giao (tế Trời tại đàn Nam Giao), lễ hội đền Huyền Trân ... có vai trò rất lớn, góp phần tạo nên thành công của các kỳ Festival nói riêng và cho ngành du lịch Huế nói chung.

Ứng xử thiếu văn hóa với văn hóa
Sự thành công của ngành du lịch Huế đang được các địa phương khác học hỏi và làm theo, nhất là các địa phương vốn có nhiều lễ hội nhưng chưa được nghiên cứu, phục dựng một cách bài bản và tổ chức chuyên nghiệp.
Tuy nhiên, việc bảo tồn, phát huy và khai thác các giá trị văn hóa của lễ hội thành các sản phẩm du lịch đang còn nhiều hạn chế. Hiện nay, hầu như chưa có một nghiên cứu khoa học mang tính tổng thể về lễ hội truyền thống. Vẫn còn tồn tại nhiều lẫn lộn trong việc phân biệt rạch ròi đâu là văn hóa dân gian truyền thống, là tín ngưỡng, tâm linh, đâu là mê tín dị đoan. Thậm chí cái gì là giá trị gốc, là nguyên bản, cái gì là sự chắp vá, lai tạp vẫn chưa được làm rõ.
Ngay cả các lễ hội tại Huế vẫn đang vấp phải nhiều ý kiến phê phán, đặc biệt là ý kiến các chuyên gia, nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa.
Nhiều ý kiến cho rằng, nếu biến những lễ hội thiêng liêng thành những buổi biểu diễn văn nghệ nhằm thu hút khách du lịch thì không lâu nữa sẽ làm mất dần sự thành kính đối với dân tộc và lịch sử, làm mất niềm tin trong tâm linh người dân. Đó là cách ứng xử thiếu văn hóa đối với văn hóa.
Về vấn đề này, TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng dân tộc học đã chỉ ra rằng trong một năm vừa qua hội Gióng ba, bốn lần bị sân khấu hóa. Và ông bày tỏ: "Những nghi lễ của ngày hội bị biến thành buổi biểu diễn văn nghệ khiến các nhà nghiên cứu lo lắng".
Còn TS lịch sử Nguyễn Hồng Kiên, khi đề cập đến vấn đề lễ tế Xã Tắc đang được kêu gọi xã hội hóa và chuẩn bị được tế lễ vào dịp Festival tại Huế sắp tới, thì thẳng thắn hơn khi cho rằng: "Sản phẩm du lịch đội lốt lễ tế truyền thống linh thiêng của dân tộc này đang bị thương mại hóa. Một nghi lễ quốc gia mà sao đến mức phải kêu gọi tài trợ? Một nghi lễ quốc gia thì không thể xã hội hóa. Đây là một Quốc lễ chứ không phải là một lễ hội dân gian truyền thống".
Những ý kiến trên đây quả thật đáng để các nhà quản lý và tổ chức du lịch quan tâm, bởi đa phần những lễ hội thu hút được du khách là những lễ hội mang tầm quốc gia và nặng tính tâm linh. Nhiều người sẽ không chấp nhận một lễ tế cầu cho quốc thái dân an, mùa màn bội thu đầy tôn nghiêm là đang "diễn" chứ không xuất phát từ sự thành kính cần thiết.
Trong lễ tế Xã Tắc diễn ra vào ngày 08.04.2010, mở màn cho Festival Huế 2010, do Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế thực hiện, thì Vua do diễn viên đoàn hát sắm vai, nhưng 100 vị bô lão lại là bô lão thật (từ các làng trên toàn tỉnh được mời về, đại diện cho trăm họ). Điều này đã tạo nên một "hình ảnh" rất khó chấp nhận là Vua thì cử hành nghi lễ rất trang nghiêm nhưng là cái "trang nghiêm" của diễn xuất, còn các vị bô lão thì quỳ lạy vua và thần linh với một niềm thành kính rất chân thật.
Khi chứng kiến màn "trình diễn này", nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan đã phải thốt lên rằng: "Thật không ra thật, mà giả cũng chẳng ra giả!". Còn TS Trần Đức Anh Sơn, lúc bấy giờ đang tham gia đề tài đánh giá việc khôi phục các lễ hội cung đình Huế (do Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì), thì chua chát: "Lập lờ giữa các mục đích nên chẳng cái nào ra cái nào".
Lợi bất cập hại
Quả thật, làm du lịch gắn liền với lễ hội, nhất là những lễ hội mang tính tâm linh rất khó. Nếu không được nghiên cứu và tổ chức một cách kỹ lưỡng và nghiêm túc thì sẽ dẫn đến tình trạng lợi bất cập hại.
Tuy vậy, không phải là không có cách làm có thể vẹn cả đôi đường. TS Trần Đức Anh Sơn cho rằng "Nếu phục hồi các lễ tế để nhằm phục vụ du lịch thì nên làm một lễ hội du lịch, vua quan quần thần ấy là diễn viên sắm vai, nhằm cho du khách được xem một lễ tế phục dựng theo ngày xưa. Còn nếu là lễ tế để cầu quốc thái dân an thì phải làm việc đó bằng lòng thành kính với đất trời; và tất nhiên không cần phải có một ông vua giả đứng tế".
Ngoài ra, nếu nhìn ra thế giới, đa phần các lễ hội thu hút được du khách của các nước khác là các lễ hội dân gian, mang tính cộng đồng cao, ít hoặc không có liên quan đến yếu tố tâm linh, nhất là các yếu tố mang tính quốc gia đại sự. Do đó, khi làm du lịch, cần phải xem xét và phát huy tối đa những lễ hội thuộc dạng này. Bởi khi một lễ hội mang tính cộng đồng cao thì rất dễ được mọi người ở nhiều nền văn hóa khác nhau chấp nhận.
Du lịch gắn liền với lễ hội là một xu hướng tất yếu và cũng là một cách khai thác hiệu quả những lợi thế vốn có của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Tuy nhiên, làm như thế nào và mức độ ra sao thì rất cần sự cân nhắc và định hướng đúng đắn của những cơ quan chức năng, những nhà quản lý văn hóa. Nếu làm một cách khoa học, với tinh thần trách nhiệm cao đối với văn hóa thì chẳng những không bị mang tiếng là tầm thường hóa lễ hội mà còn góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đang có nguy cơ mai một và biến tướng.
Trần Minh Quân (Tuần Việt Nam)