Tháng giêng “ăn chơi” cũng là tháng giêng của những miền lễ hội. Trải khắp các vùng từ xuôi lên ngược, sâu trong những làng quê thuần hậu, nơi tín ngưỡng dân gian và truyền thuyết, huyền sử hòa trộn, các lễ hội mang đến một nét đẹp văn hóa đậm tính Việt hơn hết...
Và điều đó một lần nữa cho thấy khi lễ hội thật sự là của làng, của dân, những nhốn nháo kim tiền, những phù hoa giả tạo... như đã thấy lâu nay sẽ bị đẩy lùi.
Ra Giêng đi lễ hội Bà
| Toàn cảnh lễ hội Dinh Cô với hàng chục ngàn người tham dự tại bãi biển Long Hải - Ảnh tư liệu do ban quản lý Dinh Cô cung cấp |
Trong cuốn Đạo Mẫu Việt Nam, nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh viết: “Thờ phụng nữ thần và mẫu thần là cái nền chung của đời sống tôn giáo, tín ngưỡng các tộc người ở Việt Nam và Đông Nam Á”. Có lẽ vì thế, trong tiết xuân ấm áp, nơi đền miếu quyện khói hương trầm, trong những lễ hội mang đậm màu sắc dân gian cổ truyền, thu hút hàng chục ngàn khách thập phương tụ về, không thể không nhắc đến những lễ hội Bà.
Truyền thuyết Dinh Cô
Dinh Cô là một kiến trúc hoành tráng, đậm màu sắc văn hóa dân gian, nằm bên bờ biển Long Hải (thị trấn Long Hải, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). “Lưng tựa vào núi, mặt nhìn ra biển”, Dinh Cô vừa là nơi thờ cúng tôn nghiêm, vừa có không gian thanh thoát với bãi biển rộng đẹp, hấp dẫn khách phương xa. “Từ mồng 5 tết trở đi là tụi tui bắt đầu quay như chong chóng” - ông Thái Văn Cảnh, trưởng ban quản lý khu di tích lịch sử văn hóa Dinh Cô, cho biết.
Theo ông Thái Văn Cảnh, tương truyền hồi trào Minh Mạng, một trinh nữ tên Lê Thị Hồng (tục danh là Thị Cách), quê ở Tam Quan (Bình Định), giàu lòng nhân ái từ bi, muốn tìm nơi thanh liêu ẩn dật. Cô thường theo cha là ông Lê Văn Cần đi ghe bầu vô Nam buôn bán. Tới mùa gió bấc, trời lạnh, sóng to gió lớn, cô và cha thường đậu ghe tránh gió ở sũng (vũng) Cây Dầu (cách Dinh Cô ngày nay khoảng 800m).
Ra tết, trời êm biển lặng, cô cùng cha kéo neo quay hướng về Bình Định. Chẳng may khi vừa tới Hòn Hang, gặp một luồng gió lớn thổi ngang, cô lâm nạn chết trên biển khi mới 16 tuổi. Ngư dân kéo lưới mai táng cô trên đồi cạnh đó rồi lập miếu thờ ngoài bãi biển. Dần dà, người dân cảm thấy cô hiển linh như thần. Mỗi khi gặp dông bão hiểm nguy, ngư dân van vái cầu cô phù hộ tai qua nạn khỏi thì y như rằng đều được thoát nạn. Mỗi chuyến ra khơi, bà con thành tâm cầu xin thì lúc về tôm cá đầy ghe.
Một lần, cả làng chài Long Hải bị dịch thổ tả, người dân không cách gì chữa chạy, người chết khá nhiều. Bà con xin cô cứu độ, hiển linh thay, sau đó bệnh dịch lui dần. Từ đó, trong tâm linh của người dân trong vùng, cô được ví như một nữ thần cứu nhơn độ thế, giúp đỡ ngư dân có cuộc sống yên lành, hạnh phúc.
Ông Cảnh kể năm 1930, khi ngư dân Long Hải dời miếu cô lên núi Kỳ Vân (Dinh Cô ngày nay), các nhà khảo cổ phát hiện có một tấm bia khắc chữ Hán, dịch ra là “Long Hải thần nữ bảo an chánh trực nương nương chi thần”, có lẽ là danh hiệu cao quý mà người xưa đặt cho cô để ghi nhớ công ơn.
Dân làng tụ tập trước lăng Bà Chợ Được trước giờ xuất phát cuộc diễu cộ diễn ra khoảng 18g mồng 11 tháng giêng âm lịch. Số người trẩy hội càng lúc càng đông khi cuộc diễu bắt đầu - Ảnh: Doãn Thành Trí
Lễ hội trên mặt nước
Theo ông Nguyễn Văn Điểm, phó bái (ban nghi lễ) lễ hội Dinh Cô, trước ngày giỗ chánh (mồng 10 và 11-2 âm lịch) có những đêm hội hoa đăng trên biển. Hàng vạn ghe thuyền kết hoa đăng rực rỡ đậu kín bên bờ biển, hướng mũi vào Dinh Cô. Lúc này trời đã có trăng nên khung cảnh càng thêm huyền ảo. Ghe thuyền nào cũng cờ, đèn, kèn, trống ca hát tưng bừng. Bên bờ biển, hàng vạn du khách dựng lều, trải bạt cắm trại dã ngoại càng thêm nhộn nhịp.
Tới ngày chánh lễ (12-2 âm lịch), từ sáng sớm các ghe thuyền quay hướng ra biển làm lễ Nghinh Cô. Một chiếc ghe của dân chài được coi là đi biển giỏi nhất trong năm được chọn dẫn đầu, trên có ngai, long vị Cô cùng các vị trong ban nghi lễ, các bô lão cao niên với lễ phục trang nghiêm và đội lân sư rồng. Đoàn ghe thuyền nối nhau ra khơi trong tiếng chiêng trống vang trời.
Đi khoảng 2-3 hải lý, nhắm chừng tới nơi Cô tử nạn ngày xưa, ông chánh bái bắt đầu nghi lễ rước Cô cùng các vị thần linh, ông bà tổ tiên cùng về dinh ăn giỗ. Nhân dịp này, ngư dân cũng khấn vái đất trời, thủy thần tiếp tục phò hộ dân làng năm mới làm ăn được thuận buồm xuôi gió, mọi sự bình yên, tai qua nạn khỏi. Xong lễ, đoàn ghe quay vào, trên đường đi cũng trống chiêng inh ỏi, bạn chèo ca hát vang lừng, tâm trạng hết sức vui vẻ.
“Công đức của bà Cô giúp cho dân lành tới ngày nay vẫn còn - ông Thái Văn Cảnh cho biết - Nguồn thu mỗi năm từ cúng lễ của khách hành hương khoảng 3 tỉ đồng, ngoài dùng để trùng tu, tôn tạo di tích đình, chùa trong thị trấn còn là nguồn quỹ hỗ trợ nhà tình thương, học sinh nghèo hiếu học, quỹ khuyến học, hỗ trợ bếp ăn của Bệnh viện huyện Long Đất, trợ cấp hằng tháng cho mẹ liệt sĩ, gia đình có công, người nghèo neo đơn...”.
NGUYỄN QUANG THÂN
Tuổi trẻ